Cà gai leo, cây chó đẻ chữa bệnh gan

02:04 |


Còn gọi là cà quính, cà quáng, cà gai dây, cà lù, chẻ nam (Tày), b’rongoon (Bana), trapkhar (Campuchia), blouxit (Lào). Tên khoa học Salanum procumbens Lour (Solanum hainanense Hance), họ Cà (Solanaceae).

Thành phần hoá học bao gồm:

Glucoalcaloid: solasonin, solasodin, solasodinon.
Acid amin: prolin, hydroxypolin, methionin.
 Acid nhân thơm: acid chlorogenic, acid caffeic.

Flavonoid.

Trong rễ cà gai leo có glucoalcaloid, là những chất có cấu trúc steroid, do đó cũng có thể có tác dụng chống viêm và ức chế tổng hợp colagen như một số corticoid khác.

Theo Trịnh Thị Xuân Hoà, HAINA (chiết xuất từ cây cà gai leo) làm giảm nhanh các triệu chứng lâm sàng, men aminotransferase, bilirubin, ỏ bệnh nhân viêm gan B mạn hoạt động. Trên hình ảnh siêu cấu trúc gan cũng thấy hồi phục rõ rệt của các bảo quan, nhân và màng nhân tế bào gan; ngoài ra còn làm tỷ lệ xuất hiện anti-HBe cao hơn so với lô phứng [9].

Chó đẻ răng cưa

Còn có tên khác là: chó đẻ thân xanh, diệp hạ châu, diệp hoè thái. Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Thành phần hoá học: Lá chứa một chất đắng là phyllanthin không có quinine hoặc một alcaloid khác. Lá khô chứa những chất đăng hypophyllanthin (Ọ,05%) và phyllanthin (0,35%) có độc với cá và ếch. Trong cây còn có niranthin, nirtetralin và phylteralin .

Tính vị - Công dụng: có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết. ở Ấn Độ, người ta dùng toàn cây làm thuốc lợi tiểu trong bênh phù, bệnh lậu và những rối loạn của đường niệu, sinh dục. Nưốc sắc chồi non dùng trị lỵ; rễ tươi làm thuốc trị vàng da, lá làm thuốc lợi tiêu hoá; dịch lá dùng đắp vết lỏ loét. Hiện nay nó là cây thuốíc quan trọng trong các bài thuốc chữa viêm gan siêu vi ở Ấn Độ .

ở Ấn Độ, phát hiện thấy kết quả khả quan của Picroliv (trong đó có Silimarin, Phyllanthụs niruri) trong nghiên cứu in vitro tác dụng của các sản phẩm tự nhiên chông HBV .Một nghiên cứu khác chứng minh rằng Phýllanthus amarus, toàn bộ cây trừ rễ, mọc ỗ trung tâm Thái lan, được cho uống vối liều 600-1200 mg/ngày trong thời gian 2 tháng, chỉ có một hiệu quả tối thiểu trong loại bỏ HBsAg khỏi những người lốn mang virus không triệu chứng.





Read more…

Actiso và bệnh gan

01:55 |
Actiso và bệnh gan


Tên khoa học Cynara scolymus L., thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Thành phần hoá học:
Xynarin là hoạt chất chính và những sản phẩm phân huỷ của xynarin. Ngoài ra còn thấy: inulin, ìnulinaza, tanin, các muối hữu cơ của các kim loại Kali, Canxi, Magie, Natri (tỷ lệ Kali rất cao). Phát hiện được 7 chất ilavonoid trong lá actíso.

Các thành phần khác: chất nhầy, pectin, acid malic, cắc sterol...

Tác dụng và công dụng 
Người dân châu Âu đã sử dụng actiso để chữa các bệnh sỏi bàng quang, phù thũng, các bênh về gan. Tác dụng tăng tiết mật (lượng mật có thể tằng gấp 4 lấn) cũng đã được chứng minh từ nầm 1931. Nhiều công trình đã làm sáng tỏ các tác dụng của actiso: phục hồi tế bào gan, tăng chức năng chông chất độc củạ gan, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch, làm hạ cholesterol, thông tiểu. Xynạrin là hoạt chất quan trọng nhưng các chất khác như ílavonoid, các acid cafeíc, clorogenic cũng có tác dụng hiệp đềng.

Các sản phẩm theo hoạt chất chính: chophytol, hephytol, phytol, sagophytol, arthionin, cynạbile, betasiphon, trà actịso

Đỗ Kim Sơn (1988) nghiên cứu cậy Actiso cho kết luận: “Actiso có tác dụng lợi mật tốt ồ các bệnh nhân có bệnh lý sỏi mật và nhiễm khuẩn đường mật đã được mổ. Tác dụng lợi mật này là tác dụng tăng tiết mật từ các tế bào gan, không có ảnh hưởng của sự co bóp túi mật hay của cơ tròn Oddi “

Còn gọi là sơn chi tử, chi tử; là quả chín phơi hay sấy khô của cây dành dành-Gardenia jasminoides Ellis (Gạrdenia fiorida L), họ Cà phê (Rubiaceae).

Thành phần hoá học: Trong quả dành dành có các iridoid glycosid (gardosid, gardenosid, scanzhisid,...) sắc to màu đỏ gạch: a-crocin (là một pseudo-glycosid của carotenoid carboxylic acid). Từ loài Gardenia lucida, ngưòi ta đã phân lập và xác định được cấu trúc của 5 chất ílavonoid, đó là gardenin A, B, c, D, E. Ngoài ra còn có tanin, tinh dầú, pectin.

Tác dụng dược lý 
Năm 1951, Lý Hy Thần (Trung quốc) đã chứng minh cao dành dắnh có tác dụng làm giảm lượng sắc tố mật trong máu. Năm 1954, một tác giả Nhật nghiên cứu tác dụng muôi natri của crocin và crocetin trong dành dành trên chuột bạch và thỏ đã chứng minh những chất đó làm tăng lượng mật bài tiết và giảm sắc tố mật xuất hiện trong máu.

Công dụng:
Quả dành dành có vị đắng, tính hàn, vào ba kinh tâm, phế và tam tiêu; có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, cầm máu; chữa: sốt, da vàng, xuất huyết.

Có thể dùng riêng hoặc phối hợp vối các vị khác như: Xiro nhân trần (nhân trần, chi tử) chữa vàng dạ, vàng mắt, viêm gan; Chi tử hoàng nghiệt bì thang (đơn thuốc kinh nghiệm của Trương Trọng Cảnh) gồm chi tử, hoàng nghiệt (hoàng ba), cam thảo chữa vàng da, vàng mắt, sốt.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/08/ieu-tri-xo-gan-p3.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chữa bệnh gan, cây chữa bệnh gan
Read more…

Thuốc nhân trần và bệnh gan

01:53 |
Thuốc nhân trần và bệnh gan


Nhân trần dùng để chỉ ít nhấtí 3 cây kháè nhau: hai cây nhân trần Việt Nam (Adenosma caerụleum R.Br.), và nhân trần bồ bồ (Adenosma capitạtum Benth), họ Hoa mõm spi (Scophulariaceae) đựợc sử dụng phổ biến ỏ Việt nam; cây nhân trần của Trung Quốc (Artemisia capillaris Thunb), họ Cúc (Asteraceae).

Thành phần hoá học: Sapondn, ílavonoid, axid nhân thơm, tinh dầu nhân trần có paraxymen (thành phần chính), pinen, limonen, xineol 1-8, ngoài ra còn có một số sesqúitecpen.

Nhờ phổ khôi xác định được hai chất có công thức nguyên: C15H24, phân tử lượng 204 và C15H240, phân tử lượng 220. Hiện nay chưa xác định được công thức cấu tạo

Tác dụng dược lý:

Tác dụng đối vối gan mật: Nhân trần có tác dụng chống viêm- tăng tiết mật và tăng thải độc của gaii. Bồ bồ có tác dụng làm tăng tiết mật rõ rệt, chông viêm, kháng khuẩn mạnh hơn nhân trần và làm giảm tiết dịch vị.

Công dụng:

Nhân trần có vị đắng, tính bình’ hơi hàn vào kinh bàng quang, đỏm [28]; có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp; là vị thuốc đặc hiệu chữa các chứng hoàng đản nhiễm trùng (dương hoàng) do viêm gan virus, viêm đường dẫn mật; chữa cảm mạo do phong nhiệt, hạ sốt, lợi niệu. Dùng cho phụ nữ sau khi sinh để giúp cho ăn ngon, chóng hồi phục cơ thế.

Các công trình nghiên cứu về nhân trần:

Năm 1987, Nguyễn Hữu Bình dùng viên bồ bồ điều trị viêm gan virus thấy có tác dụng lợi mật, phục hồi chức năng gan, dễ kiếm, rẻ tiền, dễ sử dụng hơn so với nhân trần, thòi gian phục hồi về lâm sàng và cận lâm sàng nhanh hơn so với nhóm điều trị bằng thuốc y học hiện đại, thuốc không độc và không gây tác dụng phụ .

Năm 1991, “Đánh giá kết qùả bứớc đầu điều trị bệnh viêm gan virus bằng cao lỏng chống viêm gan” của Trần Thuý, Vũ Nam, kết luận: “thuốc có tác dụng điều trị viêm gan virus kết quả cao, ưu tiền trên bệnh nhân có kháng nguyên HBsAg (+)” .

Năm 1992, Cao Bình và Nguyễn Thuỷ Lan .dùng Nhân trần cao thang để điều trị bệnh nhận viêm gan virus cấp đã cho kết luận: “Cao lỏng Nhân trần cao thang có tác dụng làm cho bilirubin huyết thanh trỏ về bình thưòng, các triệu chứng lâm sàng cũng phục hồi nhanh hơn so với lô chứng, chưa thấy độc tính và tác dụng phụ” .

Năm 1996, Hà Khắc Phụ nghiên cứu ảnh hưỏng của Abin chiết xuất từ cây nhân trần (Adenosma caeruleum R.Br) trong điều trị bệnh nhân viêm gan virus cấp thể thông thưòng mức độ nhẹ và vừa: thấy có tác dụng tốt trên lâm sàng và sinh hóa .

Từ cây bồ bồ, viện dược liệu đã chiết xuất và đóng viên với tên Abilin và đã áp dụng điều trị cho bệnh nhân viêm gan man hoạt động. Kết quả thấy làm giảm nhanh các triệu chứng lâm sàng, sinh hoá, nhưng ít ảnh hưỏng đến kháng nguyên HBsAg và tổn thương tổ chức học gan .

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/actiso-va-benh-gan.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: triệu chứng bệnh gan, cay cho de chua benh gi
Read more…

Cơ chế bảo vệ gan của các flavonoid

01:52 |
Cơ chế bảo vệ gan của các flavonoid


Các ílavonoid có hoạt tính chống oxy hoá. Vai trò chông oxy hoa của các Ílavonoid dựa trên các khả năng sau:

Tạo chelat (tạo phức) vối nhiều ion kim loại khác nhau như:: iôn sắt, đồng,... ngăn ngừa phản ứng Feltọn, làm giảm quá trình peroxy hoá lipid ở màng tế bào.
Phản ứng với các gốc tự do hoạt động như gốc hydroxyl và các gốc tự do thứ cấp, dập tắt chuỗi phản ứng dây truyền của gốc tự do.
Tham gia vào các quá trình chuyển vận điện tử.
Tham gia liên kết vói nhiều enzym, làm thay đổi hoạt tính các enzym đó.

Tính chất chống oxy hoá của các ílavonoid lậ êj|o khả năng trung hoà các dạng oxy hoạt động và dập tắt chuỗi phản ứng dây truyền củả gốc tự do. Flavonoid có khả năng tạo phức vối ion sắt, đồng làm các ion này mất hoạt tính khơi mào các phản ứng gốc tự do trong mô hình thí nghiệm, cũng như trong một sô" trạng thái bệnh lý.

Khả năng ngăn chặn sự perbxy hoá lipid của các ílavonoid khác nhau. Đối với gân, tính chất chông oxy hoá của ữavonoid đóng vai trò rất quạn trọng trong sự ngăn chặn quá trình huỷ hoại cấu trúc và chức năng của tế bào gan trong nhiều trạng thái bệnh lý, làm tăng nhanh quá trình tái sinh và phục hồi chức năng của tế bào gan. Tính thân oxy hoá của nhiều chất độc hướng gan quyết định tấc' dụng huy hoại gan. Sử dụng ílavonoid trong trường hợp này là cần thiết,

Flavonoid đóng vai trò, chủ vếu trong những liệu pháp phức tạp để điều trị viêm gán cấp và mạn tính, xơ gan. Trọng y văn, cỏ rất nhiều tài liếu nghiên cứu hoạt tính bảo vệ gan của một ílavolignan là silíbinin (silimarin) trong những mồ hình bệnh lý thực nghiệm. Silỉbinin có tác dụng ngăn sự hoại tử mô gan, kích thích sự tái sinh nhu mô gan, làm giảm độc tính của tetracyclin trên gan, giảm hoạt độ của aminotransferase trong huyết tương, ức phế quá trình peroxi hóa lipid. SiỊibinin và Silibor ngăn chặn sự loạn dưỡng mô gan và sư hoai tử gan phát triển, kích thích sự tạo mật và sự tổng hợp protein trong gan. Cấc chế phẩm Flacumin trong khi vẫn được dùng làm thuốc lợi mật, lạỉ đồng thời thể hiện tác dụng điều trị tốt trong câc trường hợp viêm gan. Các chất lợi mật này không chỉ lằm tăng sự tiết mật mà sự tạo thành các phức hợp chelat, mà còn ức chế sự peroxi hoá lipid và hạ thấp hoạt độ của aminotransferase của huyết tương. Các nghiên cứu còn cho thấy: với mục đích điều trị, điều hợp lý là khồng dùng riêng từng Havonoid, mà là dung hỗn hợp nhiều ílávonoiđ một lúc.

Đọc thêm:

Read more…

Các loại thuốc điều trị hoàng đản

01:50 |
Các loại thuốc điều trị hoàng đản


Những vị thuốc ỵ học cổ. truyền thường dùng trong điều trị hoàng đản là những vị thuốc có tác dụng làm giảm bilirubin máu ỏ bệnh nhân hoàng đản. Các thuốc này thuộc nhóm:

Thuốc lợi mật (choỊeretic) và thuốc thông mật (cholagogue). Thuốc có tác dụng bảo vệ gan (hèpatoprotective): vì bệnh tế bào gan nói chung co ảnh hưởng đển mọi đường của chuyển hoá bilirubin [53].

Nguồn gốc thuốc lợi mật và thuốc thông mật

Thuốc lợi mật (choleretic) Thuốc lợi mật thực thụ, kích thích tế bào làm gan tăng bài tiết mật, giông như mật gan sinh lý [17],, [79]. Tuỳ theo nguồn gốc, có:

Thuốc lợi mật có nguồn gốíc động vật: Đó là muối mật, các acid mật, hoặc mật toàn phần đã loại bỏ sắc tô" và cholesterin (như BiliAuine).

Thuốc lợi mật có nguồn gốc thực vật: nghệ (Curcuma longa L.-Zingiberaceae); actiso (Cynara scolymus L.- Asteraceae); boldo (Pneumus boldus molish; Monimiaceae);...

Thuốc lợi mật tổng hợp: Cyclovalon; Anétholrithion.

Thuốc thông mật (cholagogues).

Các thuốc thông mật là những thuốc gây co bóp túi mật, đồng thời làm giãn cơ trơn Oddi.

Về mặt sinh lý, tác dụng này phụ thuộc vào cholecystokinin pancreatozinin (CCK-PZ) do ruột tá tiết ra khi lipid và peptid từ dạ dày tràn xuống. Hầu như các thuồc có tác dụng thông mật là do làm bài tiết CCK-PZ.

Các thuốc: sorbitol, magnesi sulfat.

Thuốc bảo vệ gan (hepatoprotective)

Trong những năm gần đây có hàng loạt công trình nghiên cứu về tác dụng bảo vệ gan của các dược chất có nguồn gốc thực vật . Trong số này có các vị thuốc y học cổ truyền của các dân tộc, như: Trung quốc-Nhật bản , Nhật bản , Ấn độ, Indonexia , Phần lan-Thuỵ Sỹ, Đức- Thuỵ , Thái lan ,... 

Nguồn gốc và bản chất của các thuốcnày tuỳ thuộc các nhóm thực vật rất khác nhau, thí dụ: Tribulusamides , Picroliv , Punicalagin và Punicalin , Thoningia Sanguinea, Silymarin , Saponine , Thymoquinone , Chlormethi-azole , Boehmeria niveạ , Phenylethan- noids, Curcuma xanthorrhiza , Osbeckia octandra , Bupleurum chinensis, Phellodendron wilsonii ,...

Trong các thuốc có nguồn gôc thực vật, ngưòi ta thấy ữavonoid là một trong những nhóm hợp chất tự nhiên đóng vai trò hoạt chất, có tác dụng điều trị viêm gan, xơ gan, bảo vệ tế bào gan, kích thích tiết mật rất hiệu quả [24].

Tác dụng bảo vệ gan của các thuốc này thông qua các cơ chế khác nhau:

+ Ngăn hoại tử tế bào
+ Tărig sinh tế bào gan
+ Chống nhiễm độc gan
+ Ngăn cản oxy hoá
+ Tăng miễn dịch
+ Tăng hoạt tính của cytochrome P

Cơ chế bảo vệ gan của cảc tlavonoid [1]

Flavonoid là một nhóm hợp chất lớn thưòng gặp trong thực vật. Hơn một nửa rau quả thường dùng có chứa Aavonoid. Flavonoid cung là thành phần hay gặp trong dược liệu nguồn gốc thực vật. Cho đến nay có khoảng 4.000 chất đã được xác định cấu trúc [23].

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/co-che-bao-ve-gan-cua-cac-flavonoid.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều:  cây thuốc chữa bệnh gan, cây chó đẻ chữa bệnh gan
Read more…

Tiên lượng bệnh hoàng đản p2

01:50 |
Tiên lượng bệnh hoàng đản p2


Đốỉ với bệnh nhân cấp hoàng nển cồ chế độ hộ lý đặc biệt. Nếu cọ sốt: 4 giò cần đo nhiệt độ, mạch một lần. Đốỉ với bệnh nhân có xuất huyết nên ghi lại Cẩn thận lượng máu, màu sắc, vị trí xuất huyết. Cần lau sạch khi có xuất huỷết ỏ miệng, mũi để tránh gâỹ sặc, tắc, chú ý huyết áp, thày đổi của mạch.

Bệnh nhân cần phải yên tâm điều trị, lạc quan tin tưởng vào thầy thuốc để trợ cho can-khí điều đạt, tỳ vị hoà thuận, cấm uống rượu, hút thuốc,...

Khi đã hồi phục: Khi hoàng đản cơ bản đã thoái lui, ăn uống đã tăng, thể lực đã dần dần hồi phục, có thể phối hợp vối liệu pháp điều trị hồi phục.

Thuốc:

Khi đã hồi phục thuốc chủ yếu là điều lý công năng của tạng phủ, nên coi trọng kiện tỳ hoà vị, dữõng can bể thận nhưng cần phải phối thêm các thuốc lý khí hoà huyết lợi thấp để tránh thấp tà phục thịnh. Kiện tỳ hoà vị có thể dùng Hương sa lục quân tử thang; dưỡng can đùng Tứ vật thang gia hà thủ ô, phục lỉnh...; bổ thận có thể dùng Lục vị địa hoàng thang thuốc dùng sơn thù, sơn dược, phục lỉnh, tực đoạn, kỷ tử hương phụ, đan sâm,...

Liệu pháp ăn uống;

Liệu pháp ăn uống có thể biện chứng để dùng:

Cháo bát bảo: Có tác dụng kiện tỳ ích khí thẩm thấp, thích hợp dùng ở tỳ vị hư nhược. Dùng: khiêm thực, sơn dược, liên nhục, ý dĩ, bạch biển đậu, đảng sâm, bạch truật, phục linh, mỗi vị 6g, gạo tẻ 150g. Các vị thuốc rửa sạch đun trưốc đảng sâm, phục linh, bạch truật 30 phút, bỏ bã; sau đó cho khiếm thực, sơn dược... đun 20 phút; sau cùng cho gạo tẻ nấu thành cháo, thêm đưòng để ặn.

Canh thịt dê: có tác dụng ôn tỳ tán hàn bổ ích thích hợp dùng ỗ tỳ vị hư hàn, bụng lạnh, đại tiện loãng. Dùng thịt dê nạe 250g thái nhỏ, cả cải 1 củ thái lát, thảo quả, trần bì, cao lương khương, hạt tiếu 3g. Cấc vị thuốc dùng vải gói lại đun cùng với thịt dê, củ cải, đun thành nước đặc cho hành muốỉ, gia thêm bột mỳ thành canh.

Canh thịt lợn kỷ tử: có tác dụng tư bổ can thận thích hợp dùng ỏ thể can thận âm hư. Dùng kỷ tử .lõg thịt lợn nạc, nấu thánh canh.

Canh thịt lợn hoàng kỳ linh chi: có tác dụng bổ khí dưỡng huyết, thích hợp dùng trong những trưòng hợp khí huyết lưỡng hư: bắc hoàng kỳ 15g, linh chi 9g, thịt lợn nạc lOOg, nấư thành canh thêm muối vừa đủ.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/cac-loai-thuoc-ieu-tri-hoang-an.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: các bệnh về gan, cây chó đẻ chữa bệnh gan
Read more…

Biến chuyển bệnh hoàng đản

01:41 |
Biến chuyển bệnh hoàng đản


Biến chuyển

Sự biến chuyển của bệnh nhân liên quan mật thiết với nhiều yếu tô' như tính chất của hoàng đản, bệnh tình nặng nhẹ, thể chất hư nhược và điều trị. Nói chung dường hoàng bệnh tình tương đối ngắn, âm hoàng bệnh tình tương đôi đài, cấp hoàng là chứng nặng nhất trong dương hoàng, bệnh tình nguy hiểm nên kịp thòi điều trị. Dương hoàng, âm hoàng, cấp hoàng tuy không cùng tính chất nhưng ồ điều kiện nhất định có thể chuyển hoá lẫn nhau.

Tỳ vị thấp nhiệt và can đởm thấp nhiệt là loại dương hoàng thường gặp, chủ yếu là thấp nhiệt trồ trệ tỳ vị, chưng đốt can đồm, cần kịp thòi dùng phép thanh nhiệt lợi thấp, thanh can lợi đỏm, hoạt huyết thoái hoàng, có thể làm hoàng đản nhanh chóng thoái lui. Nếu bệnh nhân thể chất kém, bệnh tà nặng có thể dẫn đến thấp tà càng nhiều, hoàng đản ngày càng tăng nặng dần dần xuất hiện nhiệt độc tích thịnh hoặc nhiệt độc nội ẩn (chứng cấp hoàng). Cũng có thể do dùng các vị thuốc hàn lương quá nhiều làm tổn thương tỳ dương, thấp từ hàn hoá, kéo dài không khỏi mà chuyển thành chứng âm hoàng.

Chứng đởm nhiệt ứ kết, nếu ứ nhiệt tương đối nhẹ, qua điều trị thanh can lợi thấp thông tiết ứ kết, ứ nhiệt có thể tiêu tán hoặc sỏi có thể được bài xuất ra, hoàng đản dần dần thoái lui. Nếu ứ nhiệt trỗ tắc nghiêm trọng hoặc sỏi tương đôi to, có thể do điều trị không có hiệu quả, bệnh .tình gia tăng mà chuyển thành hoả độc tích thịnh, nhiệt độc nội ẩn.

Cấp hoàng là chứng cấp nặng của dương hoàng chủ yếu do nhiệt độc tích thịnh, nhiệt độc nội ẩn gây ra. Dùng lượng lớn thanh nhiệt giải độcI bảo hộ khí âm để kịp thời điều trị, bệnh tình có thể dần chuyển nhẹ. Nếu nhiệt độc tích thịnh hoặc xuất huyết lượng lốn, chính khí đại tổn thương, bệnh tình trỏ thành ấc hoá, có thể xuất hiện chứng can thận dương khí suy kiệt.

Hàn thấp tổn tỳ, can tỳ huyết ứ, âm hư thấp trỏ là những chứng hay gặp trong âm hoàng, hàn thấp trỏ trệ, dương khí không tuyên, can tỳ huyết ứ, khí huyết vận hành không thông, thấp nhiệt lâu ngày, nhiệt làm tổn thương âm dịch. Qua điều trị phù chính khu tà, kiện tỳ hoá thấp, lý khí hoà dinh, tư âm hoá thấp..., có thể làm cho bệnh tình dần dần chuyển nhẹ. Nếu điều trị không đúng hoặc khi cảm phải tà nhiệt độc gia tăng làm cho bệnh nặng lên, nhiệt không được thanh hoặc can tỳ khí huyết bị tổn thương không hồi phục, kéo dài không khỏi dẫn đến bệnh tái phất hoặc chuyển thành “tích tụ”, “cổ trướng*.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/tien-luong-benh-hoang-p2.html


Read more…

Tiên lượng bệnh hoàng đản

01:41 |
Tiên lượng bệnh hoàng đản


Tiên lượng.

Chứng tỳ vị thấp nhiệt và can đồm thấp nhiệt, vị trí bệnh chủ yếu ỗ tỳ vị, can đởm. Nếu phát hiện sớm và điều trị sớm, chính khí còn tương đối thịnh, nói chung trong thòi gian ngắn hoàng đản có thể hết, tiên lượng tốt.

Chứng đỏm nhiệt ứ kết, nếu ứ nhiệt hoặc biến thành thạch ỏ mật, tiên lượng kém hơn, nên kết hợp điều trị giữa y học cổ truyền và y học hiện đại.

Chứng nhiệt độc tích thịnh và nhiệt độc nội ẩn, tà đã nhập vào tâm dinh, tổn huyết, đó là chứng cấp hoàng nặng, tiên lượng phần nhiều là không tốt, nên kịp thời cấp cứu điểu trị.

Chứng hàn thấp tổn tỳ, can tỳ huyết ứ, âm hư thấp nhiệt thuộc phạm vi âm hoàng. Trong đó chứng hàn thấp tổn tỳ bệnh tình tương đối nhẹ nông, nếu dùng phù chính khu tà, dương khí hồi phục, hoàng đản dần dần thoái lui, đại đa số bệnh nhân có tiêh lượng tương đối tốt. Chứng can tỳ huyết ứ, tích tụ đã hình thành, tiêu tán không dễ, nếu như đã sơ can hoá ứ, lợi thấp thoái hoàng, hoàng đản dần dần thoái lui, khối tích tụ dần dần tan, tức là tiệụ lượng tương đối tốt. Nếu can tỳ huyết ứ lâu ngày, uất lâu hoá nhiệt, thương âm động huyết làm cho hoàng đản nặng hơn chuyển thành chứng cổ trướng, tiên lượng sẽ không tốt. Âm hư thấp trỏ thuộc âm hoàng, chứng hậu tương đối phức tạp, điều trị tốn nhiều thòi gian nhưng tiên lượng phần nhiều tốt.

Công tác hộ lý và điểu dưỡng

Bệnh nhân trong thời kỳ hoàng đản nên nằm nghỉ tại giường. Thòi kỳ hoàng đản thoái lui: các triệu chứng giảm, ăn uông khá hđn, thê lực dần dần hồi phục nên hoạt động nhẹ nhàng như tập thái cực quyền, luyện khí công, đi bộ nhẹ nhàng. Phòng ở cần sạch sẽ yên tĩnh, thoáng khí, khô ráo.

Bệnh nhân hoàng đản cần ăn uông đủ chất dinh dưỡng để tiêu koá, không nên ãn quá ngọt hoặc quá mặn, không ăn cá thưc ăn sống lạnh, dầu mõ, cay nóng, các đồ cứng,... để tránh ảnh hưỏng đến sự vận hoá của tỳ vị, tổn thương đến huyết lạc. Tính vị và chất của thức ăn tuỳ theo bệnh tĩnh má thay đổi: bệnh nhân cấp hoàng nên ăn thức ăn lỏng tính vị ngọt hàn; bệnh nhân dương hoàng nên ăn thức ăn sền sệt hoặc thức ăn mềm, tính vị ngọt mát, bệnh nhân âm hoàng nên ăn chất mềm, thuộc dương hư và khí huyết lưỡng hư tính vị nên ngọt ấm; thuộc âm hư tính vị nên ngọt bình hoặc ngọt mát mà nhuận. Phốỉ ngũ trong ăn uống nên có lợi cho việc thẩm thấp kiện tỳ. Thời kỳ hoàng đản nên ăn ít ltíỢng nhiều chất, thời kỳ hồi phục ăn uống đã tăng nên điều tiết, tránh ăn quá nhiều để trậnh ảnh hựồng đến vận hoá của tỳ vị.

Đọc thêm tại:

Read more…

Triệu chứng và cách trị liệu Can tỳ huyết ứ

01:38 |
Triệu chứng và cách trị liệu Can tỳ huyết ứ


Triệu chứng: toàn thân, mắt vàng sắc tối, hạ sườn có tích, có thể thấy khối tích đó trướng đau, sắc mặt tối trệ hoặc tối đen, phần bụng có đường gân xanh nổi rõ. Chất lưỡi tối hoặc tím tối hoặc hai bên có điểm ứ. Mạch tế sáp. Nếu hiệp vối hàn thấy chi lạnh, khối tích đau chườm nóng đõ đau, chất lưỡi đạm tối, rêu lưỡi trắng hoạt, mạch trầm tế trì. Nếu hiệp với nhiệt có thể thấy da khô, chảy máu mũi, đại tiện ra máu, chất lưỡi tối đỏ, rêu lưỡi vàng nhợt hoặc vàng bẩn ít tân địch, mạch huyền sáp mà sác. Nếu hiệp với âm bị tổn thương có thể thấy hình thể gày, cốt trưng triều nhiệt; da, móng tay, móng chân khô, chất lựdi tối đỏ, ít rêu. Mạch tế sáp sác.

Pháp điều trị: Hoá ứ tiêu trưng (kết báng ỏ bụng). Hoàng đản lâu ngày, trọc tà ứ trở mạch lạc, kẹt ở hạ sưòn, khí trệ huyết ứ, dần dần hình thành khối trưng, do đó cần phải hoá ứ tiêu trưng

Phương dược:
Phương dược thường dùng: Cách hạ trục ứ thang gia giảm kết hợp uống Miết giáp tiễn hoàn: đào nhân, hồng hoa, xuyên khung, xích thược, ngũ linh chi, đan bì, hương phụ, chỉ xác, diên hồ sách, sinh hoàng kỳ, nhân trần, trạch tả.

Trong phương đào nhân, hồng hoạ, xuyền khung, xích thược, đan bì, ngũ linh chĩ huyết hoá ứ; hương phụ, chỉ xác, diên hồ sách lý khí thông lạc chỉ thống; nhân trần, trạch tả lợi thấp thoái hoàng; hoàng kỳ ích khí kiện tỳ. Gia Miết giáp tiễn hoàn để nhuyễn kiên tán kết, phá huyết công ứ, sơ thông ứ trệ ỏ can kinh mạch lạc.

Gia giảm:

Nếu bụng trưống đau gia hậu phác, mộc hương; ăn kém gia kê nội kim; nếu khí nặng tằng lượng hoàng kỳ 20-40g; kèm thêm gia đảng sâm, nếu hạ sưòn nổi u tương đối cứng, trưống đau gia xuyên sơn giáp, tam láng, nga truật, hẫi tảo. Nêu có Xuất huyết như chảy máu cam, chảy máu chân răng gia tam thất, bạch mao căn. Nếu ĩiôn ra máu, đại tiện ra máu gia tam thất, bạch cập, địa duj huyết dư thán. Nếu chứng này kiêm thêm hàn thấp khôn tỳ thì phương này bỏ đào nhân, xích thược, đan bì, gia phụ tử, can khươrig, đảng sâm, bạch truật. Nếu kiêm âm bị tổn thương gia sinh địa, mạch đông, nữ trinh tử. Nếu có huyết nhiệt xuất huyêt thì trước tiên phải thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết. Sau khi huyết dừng mới tuỳ theo tình hình mà cho uống phương này, lấy Tê giác địa hoàng thang gia chi tử, liên kiều, tử thảo,...

Chú ý:
Chứng này lấy huyết ứ là chính, nhưng bệnh lâu ngày thường dẫn đến chính khí hư do đó cần phải phối thêm các vị thuốc bổ ích, tiêu bản kiêm trị. ứng dụng hoạt huyết hoá ứ cần phải chú ý quan sát có hay không hiện tượng động huyết, từ đó mà chọn thuốc và liều lượng để điều chỉnh.

Sau khi hoàng đản đã hết nên kiện tỳ dưỡng can bổ thận, phối hợp vối một ít các vị hành khí hoạt huyết để củng cô hiệu quả điều trị.

Huyết ứ có nhiều nguyên nhân khác nhau: do hàn, do nhiệt, do thấp, do đàm, do khí. Nếu do hàn dùng các vị thuốc tân ôn hoạt huyết như: đào nhân, hồng hoa, xuyên khùng, đương quy vỹ. Nếu do nhiệt dùng các vị thuôc lương huyết hoạt huyết, đạm hàn hoá ứ như: xích thược, đan bì, thuỷ điệt. Nếu do đàm cần phôi thêm các vị thuốc hải tảo, côn bộ, hải phũ .hạch để nhuyễn kiên hoá đàm. Nếu do khí cần phôi thêm các vị thuốc trừ khí như: hương phụ, chỉ xác, sài hồ có thể nâng cao hiệu quả điều trị.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/tien-luong-benh-hoang-an.html

Read more…

Triệu chứng và điều trị bệnh âm hư thấp trỏ

01:36 |
Triệu chứng và điều trị bệnh âm hư thấp trỏ


Triệu chứng: Mắt vàng, mặt vàng, toàn thân vàng, đau lưng mỏi gối, huyễn vựng, ngũ tâm phiền nhiệt, ăn ít, bụng trướng, tiểu vàng. Có the có đau hạ sườn, hoa mắt, triều ĩlhiệt, đạo hãn, họng khô, tai ù, tâm phiền, miệng khố dính, chân phù thũng, đại tiện táo kết. Chất lưỡi đỏ hoặc có vết nứt, rêu lưỡi trắng bẩn hoặc mỏng hoặc dày. Mạch tế nhu hoặc trầm hoạt.

Pháp điều trị: Dưỡng âm lợi thấp. Thấp nhiệt lâu ngày nhiệt tà thương âm, can thận ấm dịch bât túc, thấp tà khôn tỳ, can đồm khí cơ bất lợi, dịch mật tràn ra ngoài mà phát hoàng, do đó cần phải dưỡng âm lợi thấp.

Phương dược:
Phương dược thường dùng: Lục vị địa hoàng thang hợp với Nhị đông linh xa thang gia giảm: sinh địa hoàng, sơn thù du, thiên môn đông, phục linli, sa tiền tô, ĩìhân trần, đan bì, xích thược, uất kim, thái tử sãm»

Trong phương sinh địa hoàng, Sơn thù du, thiên môn đông tư dưõng can thận âm; thái tỏ sâm ích khí dưỡng âm; phục linh, sa tiền tử, nhân trần lợi thấp thoái hoàng; đan bì, xích thược, uất kim lương huyết hoạt huyết, lợi đỗm thoái hoàng thông lạc.

Gia giảm:
Nếu đau lưng mỏi gôi nặng gia: tục đoạn, đỗ trọng; hoa mắt gia tang thầm, câu kỷ tử, nếu triều nhiệt đạo hãn nặng gia miết giáp, địa cốt bì, nữ trinh tử; nếu đau nặng mạng sườn gia bạch thược, xuyên luyện tử; nếu hầu họng khô miệng gia thiên hoa phấn, sinh sơn dược, huyền sâm; tâm phiền bất an gia bách hợp, toan táo nhân, bụng đầy trướng đau gia hậu phác. Nếu hoàng đản nặng gia hố trượng, râu ngô; nếu tiểu ít phù chân gia đông qua bì, tang bạch bì; nếu khí hư mệt mỏi vô lực gia đảng sâm, nếụ âm hư huyết nhiệt xuất huyết gia bạch mao căn, tử thảo, tây thảo. Nếu đại tiện khô táo gia đại ma nhân, uất lý nhân. Nếu đại tiện trệ mà không thông gia hương phụ, chỉ xác. Nếu kiêm thấp nhiệt, nên chú ý dưõng âm thanh nhiệt lợi thấp thoái hoàng cùng dùng, gia hổ trượng, bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên. Nếu kèm thêm có ứ gia đan sâm, trạch lan...

Chú ý:
Điều trị chứng này thứ nhất cần dưỡng âm, thứ hai cần lợi thấp, cần phải cân nhắc nặng nhẹ hoãn cấp mà điều trị, cần phải xem xét tình hình cụ thể mà thêm các thuốc kiện tỳ hành khí như gia gia đảng sâm, bạch truật,... làm cho tỳ khí kiện vậnlợi mà thấp được trừ, thủy cộc tinh khí đạt được hoá sinh mà châm âm dễ được hồi phục.

Thòi kỳ hồi phục bình bổ tỳ thận tư dưỡng can âm là chủ. Sinh địa, thiên đông dương âm mà không trợ thấp, nói chung dùng 30g trồ lên Hiệu quả mói tương đối tốt.

Cấm dùng các thuốc tân ôn táo thấp hoặc khổ hàn lợi thấp để phòng thương âm tổn thương, thấp từ nhiệt hoậ hoặc thấp từ hàn hoá.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/trieu-chung-va-cach-tri-lieu-can-ty.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: dấu hiệu bệnh gan, cây chữa bệnh gan
Read more…

Triệu chứng và phương pháp điều trị nhiệt độc nội ẩn

01:32 |
Triệu chứng và phương pháp điều trị nhiệt độc nội ẩn


Triệu chứng:‘Mặt, mắt, toàn thân vàng, khỏi bệnh cấp và nhanh chóng gia. tăng, sột cao không hạ, dưới da có nốt ban tím xuất huyết, chảy máu chân răng, nôn, ra máu, đại tiện ra máu, tinh thần không tỉnh táo, nói năng lảm nhảm, có những động tấc bất thường hoặc phát cuồng loạn, co rút, tiêu ít váng đổ hoặc bí tiểu tiện. Có thể: không muôn ăn, nôn nhiều, bụng trướng, đại tiện không thông, chất lưỡi đỏ giáng, rêu vàng bẩn hoặc ít rêu, mạch huyền tế sác.

 Pháp điều trị: Thanh dinh giải độc, lương huyết chỉ huyết. Chứng này do nhiệt độc nội ẩn tâm dinh, tà độc xâm nhập bức huyết vong hành mà gây ra, do đó cần phải cấp dùng thanh dinh giải độc, lương huyết chỉ Huyết kết hợp vối khai khiếu tức phong.

Phướng dược:

Phương dược thường dung: Thanh dinh thang gia giảm: kim ngân hoa, hoàng liên, chi tử, liên kiều, sinh địa hoàng, mạch môn đông, đại .nguyên sâm, đan bì, xích thược, đại hoàng, nhân trần, sừng tê giác.

Trong phương sừng tê giác (hoặc thay bằng sừng trâu) tính đạm hàn giải nhiệt độc ỏ dinh phận. Kim ngân hoa, hoàng liên, chi tử, liên kiều thanh tâm giải độc; sinh địa hoàng, mạch đông, nguyên họa thạnh nhiệt dưỡng âm; đan bì, xích thược lương huyết tán huyết; nhân trần, đại hoàng tả nhiệt thoái hoàng.

Gia giảm: Nếu hoàng đảri nặng, gia bán biên niên, hô trượng, bạch hoa xà thiệt thảo, biển súc. Nếu chiều tốỉ mà sốt cao gia tri mẫu, bạch vi, miết giáp. Nếu dưói da nổi ban xuất huyết gia thang ma, tử thảo, đại thanh diệp> Nếu xuất huyết nặng gia: địa du, trắc bách diệp, tam thất, bột đại hoàng, ... Nếu thần không tỉnh nói lảm nhảm gia An cung ngưu hoàng hoàn. Nếu cuồng, co rút nặng gia linh dương giác, địa long, câu đằng, thiên ma. Nếu bụng chướng to, phủ khí không thông gia binh lang, phác tiêu. Nếu tiểu tiện ngắn đỏ gia biển súc, cù mạch, mộc thông, sa tiền tử; nôn nghịch nặng gia trúc nhự, bán hạ, đại giả thạch,...

1 - Chú ý:

Chứng này là tà thịnh tiềm ẩn bên trong, phần nhiều dấn đến khí huyết âm dương bị tổn thương, về điều trị không thể tiến bổ trệ tà mà cần phải kịp thời phù chính để tránh chính khí bị hư tổn, nguy hiểm sẽ phát sinh.

Khi bệnh nhân xuất hiện tinh thần rốỉ loan, mệt mỏi cực độ, tức là biểu hiện của khí hư, cần phải cấp dùng nhân sâm, tây dương sâm để bổ khí phòng thoát.

Nếu mạch tế tứ chi lạnh là dương suy cần phải cấp gia thêm phụ tử, nhân sâm, can khương để hồi dương cố thoát.

Nếu bệnh nhân có tô' chất thể hư rất dễ phát sinh can thận dương khí suy kiệt xuất hiện tinh thần thò ơ, tiếng nói nhỏ yếu, mồ hôi ra như dầu,; tứ chi quyết nghịch, cần cấp dùng hồi dương cứu nghịch, cô' thoát khai khiếu.

Ngoài ra cần phải theo dõi sát hiện tượng xuất huyết, thần chí và những thay đổi về động thái.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/trieu-chung-va-ieu-tri-benh-am-hu-thap.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: chữa bệnh gan, cây chữa bệnh gan
Read more…

Triệu chứng và điều trị hàn thấp tổn tỳ

01:32 |
Triệu chứng và điều trị hàn thấp tổn tỳ


Triệu chứng: Mắt vàng, toàn thân vàng tôi, sợ lạnh thích nóng, ăn ít, bụng đầy trướng, toàn thân mệt mỏi nặng nề, đại tiện nát kèm theo sườn trướng đau, tiểu tiện không lợi, chi dưới phù thũng, sắc mặt xám tôi, chất lưỡi đạm hoặc tối đạm bệu, rêu lưỡi hoạt hoặc trắng bẩn hoạt, mạch trầm tế trì hoặc nhu tế.

 Pháp điểu trị: Tán hàn hoá thấp, ôn dương kiện tỳ. Hàn thấp trồ trệ ỏ tỳ vị, dương khí không tuỹên, thổ ủng mộc uất, dịch mật tuyên tiết không lợi tràn ra bì phu mà phát sinh hoàng đản, do đó cần phải tán hàn hoá thấp, ôn dương kiện tỳ.

Phương dược:

Phương dược thường dùng: Nhân trần truật phụ thang gia giảm: phụ tử, cạn khương, đảng sâm, sinh bạch truật, trích cam thao nhấn trần, phục linh, trạch tả, quế chỉ, xuyên khung.

Trong phương nhân trần, phụ tử cùng dùng để ôn hoá hàn thấp thoái hoàng, phối với can khương, quế chi ôn trung tán hàn; đẳng sâm, bạch truật, cam thảo: kiện tỳ ích khí; phuc linh, trạch tả đạm thẩm lợi thấp, thêm xuyên khung tấn ôn tán hàn, hành khí hoạt huyết.

Gia giảm: Nếu vị quản trướng rêu lưỡi bẩn gia: hậu phác, mộc hương, nôn nhiều gia: bán hạ, thảo đậu khấu. Nếu bụng lạnh đau, đại tiện nát gia ngô thù du, nhục đậu khâu; hạ sườn có khối u kèm theo có ứ trệ gia: nga truật, hồng hoa. Nếu tiểu tiện ít chân phù gia râu ngô 60-120g. Nếu có cổ trướng gia: đại phúc bì, đông qua bì, mộc hương. Nếu tổn thương dương khí của tỳ thận chi lạnh bụng lạnh, ngũ canh tả, lưỡi đạm mạch tế thì thay quế chi bằng nhục quế, gia nhục đậu khấu, bô cốt chỉ, ích trí nhân, ngô thù du.

Chú ý:

ở chứng này các vị thuốc.tán hàn ôn dương như phụ tử, can khương, quế chi là những vị thuốc cần dùng, chỉ cần căn cứ mức độ nặng nhẹ của hàn thấp mà điều chỉnh liều lượng, kiên trì dùng thuốc, mói đạt được hiệu quả tốt mà không có những phản ứng phụ.

Các thuốc hoạt huyết nên dùng những vị thiên về tân ôn như xuyên khung, hồng hoa, đương quy vỹ... để lợi tán hàn trừ thấp.Các thuốc lương huyết hoạt huyết nên dùng thận trọng, khi cần dụng nên gia thêm lượng quế chi, cạn khương để chế tính hàn lương của các thuốc đó.

Nếu hàn thấp tương đối nặng, cần gia thêm bổ cốt chỉ, ích trí nhân để ôn bổ thận dương để đề phòng chũyển hoá đến tỳ thận dương hư. Thời kỳ hồi phục lấy bình bổ tỳ thận dưõng can là chủ để củng cố hiệu quả điều trị. Chứng này khi khội thưòng có chứng tỳ hư thấp trệ hoặc can tỳ lưỡng hư nên lấy Hương sa lục quân tử thang, Tứ vật thâng để điều trị nhưng vẫn cần gia thêm ít VỊ ôn ty để đề phòng hàn thấp lại gây bệnh.


Đọc thêm tại:

Read more…

Bệnh lý và trị bệnh nhiệt độc tích thịnh

01:20 |
Bệnh lý và trị bệnh nhiệt độc tích thịnh


Triệu chứng: Mắt, toàn thấn vàng đậm, vàng tươi, khỏi bệnh cấp và nhanh chóng trỏ nên nặng, sốt cạo phiền táo, nôn nhiều, vị quản trướng đầy, đại tiện bí kết, tiểu tiện ít, vàng đỏ. Có thể kèm theo ăn uông giảm sút, không muốn ăn, hạ sườn trướng đau cự án hoặc tinh thần rối loạn mệt mỗi cao độ. Chất lưỡi đỏ ráng, rêu vàng hoặc vàng bẩn dày, mạch huyền sác hoặc hồng sắc .

Pháp điều trị: Thanh nhiệt giải độc tả hoả. Chứng này là do thấp nhiệt hiệp độc, uất mà hoá hoả, nhiệt độc tích thịnh chưng đốt can đởm, bức làm cho dịch mật tràn ra ngoài bì phu, hoàng đản nhanh chóng trỗ nên nặng, đo đó cần phải dùng thanh nhiệt giải độc tả hoả.

Phương dược:

Phương dược thưòng dùng: Thanh ôn bại độc ẩm hợp vối Nhân trần cao thang gia giảm: hoàng liên, hoàng cầm, chi tử, liên kiều, sinh thạch cao, tri mậu, nhân trần, xích thược, đan bì, sinh đại hoàng, sinh địa hoàng, sinh cam thảo.

Trong phương dùng hóàng liên, hoàng cầm, chi tử là dựa theo Hoàng liên giải độc thang, thông tả tam tiêu hoả nhiệt. Dùng thạch cao phối vói tri mẫu, cam thảo là dựa theo bài Bạch ho thang, Thanh nhiềt bảo tân; phốỉ vối sinh địa hoàng, xích thược, đan bì, liên kiều để thanh nhiệt lương huyết tán ứ. Nhân trần, đại hoàng tả hoả thông tiện.

Gia giảm: Nếu sốt caọ không hạ gia bột sừng trâu. Nếu hoàng đẫn nặng gia bặch .hoa xà thiệt thảo, hổ trượng, bán biên liên, biển súc. Nếu nôn nặng gia trúc nhự, lô căn, bán hạ, đại giả thạch. Nếu đại tiện táo kết gia nguyên minh phấn. Nếu vị quản trướng đầy nặng gia: chỉ thực, binh lang, hậu phác. Nếu hạ sưồn đaụ tức cự án gia: diên hồ sách, xuyên luyện tử, đan sâm. Nếu miệng khát nặng gia thiên hoa phấn, lo căn, mach đông. Nếụ tâm phiền bất an gia: lịện tử tâm* trúc diệp, bach hợp, toan táo nhân, Nếu tiểu tiện ít đỏ gia: mộc thông, sa tịền tử, cù mạch, bạch mao căn. Nếu khí âm tổn thương nặng gia: tây dương sâm, huyền sậm, tăng liều dùng sinh địa. Nếu có co rút gia: linh dương giác, thiên ma, câu đằng, toàn yết, địa long. Nếu xuất hiện hôn mê, xuất huỵết, bí tiểu tiện cần áp dụng các phương pháp xử lý cấp cứu.

Chú ý: Nhiệt độe tích thịnh bệnh nặng, nhiều biến chứng, vì thế nên áp dụng nhiều phượng pháp điều trị:

Thanh dương minh khí phận và minh phủ nhiệt.
Thanh tam tiêu thực hoả nhiệt .
Lương huyết hòạt huyết dưỡng âm.

Xem mức độ và tính chất bị tổn thương của chính khí mà kịp thòi phù chính để nhiệt độc nhanh chóng được thanh, chính khí được phục hồi, phòng phát sinh các biến chứng khác.

Các thuốc thanh nhiệt giải độc và hoạt huyết thoái hoàng nên dùng liều lượng lớn: chi tử và liên kiều có thể dung đến 30g, đại hoàng dùng đến 20g trỏ lên, nhân trần, xích thược 60g. Ngày dùng 2 thang chia làm 4 lần uống để nhằm đạt hiệu quả nhanh nhưng vẫn Gần kết hợp vối tình trạng cở thể mà tăng giảm liều.

Thời kỳ hồi phục bệnh nhân thưòng xuất hiện chóng mặt đau đầu, đau lưng; riều nhiệt hoặc ngũ tâm phiền nhiệt, lưõi đỏ, mạch tế sác,... tức lầ các chứng trạng của can thận âm hư, vì thế nên dưỡng âm là chính, kết hợp dùng thãnh nhiệt ích khí. Phướng dùng Lục vị địa hoàng thang gia nữ trinh tử, tang thầm, ngân hoa, thái tử sâm

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/trieu-chung-va-ieu-tri-han-thap-ton-ty.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: triệu chứng bệnh gan, cay cho de chua benh gi
Read more…

Biện chứng và trị liệu bệnh hoàng đản p4

01:18 |
Biện chứng và trị liệu bệnh hoàng đản p4


Chú ý: thời kỳ can đồm thấp nhiệt lấy thanh lợi can đồm là chính, thấp cơ bản được thanh trừ lấy kiện tỷ hoà vị là chu phoi hợp với thanh sơ. Thòi kỳ hồi phục lấy dưỡng can kiện vị là chủ để củng cô'hiệu quả điều trị. Lâm sàng gặp nhiệt năng hơn thấp của can đỏm thấp nhiệt, rất dễ dẫn đến ứ nhiệt họ ủt phủ khí không thông mà hại đến âm dịch, do đó ngoài phép thanh nhiệt thông phủ, hoạt huyết hoá ứ ra, còn phải cần coi trong bảo hộ âm, trong dùng sinh địa, gia thêm huyền sâm, mạch môn đông để dưỡng âm. Nếu thấp nặng hơn nhiệt, thấp trỏ trệ khỉ dễ dẫn đến thấp ilất mà nhiệt tích, nên dùng xích thược, uất kim hoạt huyết giải uất, lấy lợi thấp tà để thanh trừ. Chứng này trong quá trình hướng đến khỏi bệnh đã qua các giai đoạn tỳ hư thấp trệ hoặc can uất tỳ hư, vì thế khi điều trị nên kết hợp vói các thuốc kiện tỳ, không thể dùng thanh nhiệt lợi thấp quá dài làm tổn thương chính khí.

Đỏm nhiệt ứ kết:

 Triệu chứng: Mắt vàng, toàn thân vàng tươi hoặc có lẫn sắc xanh, hạ sưồn phải đau tức, kịch liệt, cự án, đau lan lên bả vai. Miệng đắng, nôn, vị quản đầy trướng, đại tiện thất thưòng, lúc nát lúc táo, tiểu tiện vàng; kèm theo nhiệt: sốt cao phiền táo hoặc hàn nhiệt vãng lai. Khi đau kịch liệt mồ hôi ra nhiều, tay chân quyết lạnh, nôn ra dịch mật, lưỡi đỏ hoặc đỏ tốỉ, rêu vàng dày bẩn, mạch huyền hoạt sác, khi đau nhiều mạch trầm huyền.

Pháp điều trị: Thanh lợi can đởm, hành ứ thông tiết. Do bệnh tại can đồm, phần nhiều do đỏm nhiệt hoặc sỏi biến kết, trỏ trệ đường dẫn mật làm cho sự bài tiết mật thất thường, ứ nhiệt chưng đốt can đỏm làm cho dịch mật tràn ra ngoài, vì thế cần phải thanh lợi can đỏm, hành ứ thống tiết.

 Phương dược

Phương dược thường dùng: Đại sài hồ thang gia giảm: bắc sài hồ, hoàng cầm, chỉ thực, sinh đại hoàng, kim tiền thảo, nhân trần cao, kim ngân hoa, bồ công anh, hải kim sa.

Trong phương sài hồ, hòàng cầm, kim tiền thảo, hải kim sa để sơ can lợi đỏm thanh nhiệt bài sỏi. Nhân trần, đại hoàng, chỉ thực để tiết nhiệt thoái hoàng, lý khí thông tiện. Kim ngân hoa để thanh nhiệt giải độc, khai uất.

Gia giảm: Nếu đau nhiều gia diên hồ sách, xuyên luyện tử. Nếu đại tiện táo kết, bụng trướng nặng gia mang tiêu, tiêu binh lang. Nôn nhiều nặng gia: yêu long can, bán hạ. Nếu sốt cao phiền táo gia tri mẫu, sinh thạch cao, chi tử. Nếu hoàng đản nặng tăng liều dùng nhân trần 90g, xích thược 30g kèm theo gia thêm hổ trượng, bán biên liên, sỏi mật làm tắc đường mật mà đau nhiều, nôn, khi nóng khi lạnh dùng Ô mai hoàn. Nếu đỏm nhiệt ứ kểt diễn biến thành hoả độc tích thịnh bệnh nhân hoàng đản nặng, sốt cao, hạ sưòn đau kịch liệt, tay chân quyết lạnh, mạeh trầm kết, lưỡi đỏ rêu vàng bẩn nên dùng Hoàng liên giải độc thang để thanh nhiệt giải độc, lương huyết tả hoả, thanh lợi can đỏm. Nếu chính khí bị tổn thương, thần chí không tỉnh táo, mồ hôi ra nhiều chi lạnh, có xu hướng xuất huyết, lưỡi đỏ rêu vàng khô, mạch tế hoặc tế sác thuộc chính hư tà ẩn, cần phải cấp dùng thanh nhiệt giải độc, ích khí hồi dương dùng Hoàng liên giải độc thang, Ngũ vị tiêu độc ẩm gia nhân sâm, phụ tử, mạch môn đông hoặc gia Sinh mạch tán.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/benh-ly-va-tri-benh-nhiet-oc-tich-thinh.html


Read more…

Biện chứng và trị liệu bệnh hoàng đản p3

01:16 |
Biện chứng và trị liệu bệnh hoàng đản p3


Can đởm thấp nhiệt:

Triệu chứng: Mắt vàng, toàn thân vàng tươi, hạ sườn phải trướng đầu, miệng đắng, ân kém, nôn, mệt mồi vô lức tiểu ít vàng. Nhiệt nặng hơn thấp: phát nhiệt phiền táo, miệng khát muốn uống, đại tiện bí kết, lưỡi đỏ, rêu vàng đính hoặc vàng dày bẩn ít tân dịch, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.

Thấp nặng hơn nhiệt: phát nhiệt không cao, miệng dính bẩn, đại tiện nát, lưỡi đỏ, rêu vàng hoạt bẩn hoặc vàng trắng bẩn hoạt, mạch Huyền hoạt hơi sác hoặc huyền hoạt.

Pháp điều trị: Thanh can lợi đởm. Do bệnh ở can đỏm: thấp nhiệt nặng chưng đốt can đởm, thấp trệ nhiệt tắc, đỏm dịch không đi theo đường bình thường tràn ra ngoài bì phu làm cho toàn thân vàng. Can đỏm sơ tiết thất thường, khí cơ uất trệ, vì thế cần phải thanh can lợi đởm. Nhiệt nặng hơn thấp: phối hợp với thạnh nhiệt giải độc, lương huyết hoá ứ. Thấp nặng hợn nhiệt: phối hợp với các thuốc phương hương hoá trọc, lợi đỏm giải độc

Phương dược:

Phương dược thường dùng:

Nhiệt nặng hơn thấp: dùng Long đởm tả can thang hợp với Ngũ vị tiêu độc ẩm: long đởm thảo,, hoàng cầm, chi tử, nhân trần, xa tiền tử, sinh đại hoàng, xích thược, địa hoàng, kim ngân li oa, cúc hoa, bắc sài họ, sinh cam thảo.

Nếu thấp nặng hơn nhiệt: dùng Cam lộ tiêu độc đan [82]: lá hoắc hương, bạch đậu khấu, bán hạ, thạch xương bồ, nhân trần, mộc thông, hpàng cầm, liên kiều, xích thược, uất kim, sinh ý dĩ.

Phương đầu lấy long đỗm thảo, hoàng cầm, chi tử, nhân trần, đại hoàng để thanh tả can đởm thực hoả, táo thấp thoái  hoa để tăng hiệu quả thanh nhiệt giải độc; xa tiền tử tính chuyên giáng tiết, thẩm thấp tiết nhiệt; ơam thảó điều hoà các vị thuốc, tả hoả giải độc.

Phương sau lấy hoắc hương, bạch đậu khấu, bán hạ, thạch xương bồ, ý dĩ để phương hương hoá trọc, khaỉ tiết khí cỡ. Nhân trần, mộc thông để thanh nhiệt lợi thấp thoái hoàng; hoàng cầm, liên kiều để thạnh nhiệt giải độc; xích thược, uất kim để hoà dinh khai uất lợi đỏm thoái hoàng.

Gia giảm: Nhiệt nặng hơn thấp gặp sốt cao phiền táo gia sinh thạch eao, tri mẫu, thành cao, lô căn,... Có khuynh hướng xuất huyết nặng dùng sinh địa hoàng, gia tử thảỏ. Nôn nghịch, nôn ra dịch đắng, gia: hoàng liên, trúc nhự, bán hạ. Hạ sườn trưóng đau, gia: hương phụ, diên hồ sách. Tiểu ít vàng, gia: bạch mao căn, biển súc. Họàng đản tương đốì nặng, gia hể trướng. Thấp nặng hơn nhiệt gặp vị quản trướng ăn ít, gia: hậu phác, thương truật, sa nhân. Nếu thấp nặng nôn nghịch gia: thảo đậu khấu, trạch lận ĩỷếu đại tiện nát Ịpậng, bụng chướng gia: chế đại hoàng, chỉ tỊiực. Nếu gặp tinh thần không tỉnh táo, nói lắm nhảm, rêu lưới bẩn hoạt đồ là đàm thâp trơ trệ ỏ tâm bào, có thể chuyển dùng Xương bồ uất kim thang gia xích thược, nhân trần. Nếu nhiệt nhập tâm bào, tình thân bất an có thể gia An cung ngưu hoàng hoàn.

Đọc thêm tại:



Read more…

Biện chứng và trị liệu bệnh hoàng đản p2

01:15 |
Biện chứng và trị liệu bệnh hoàng đản p2


Hai phương trên lấy nhân trần làm chủ dược, nhân trần khổ tiết hạ giáng, chuyên thanh lợi thấp nhiệt là thuốc chủ yếu điều trị hoàng đản. Phương đầu phối với chi tử, đại hoàng để thanh nhiệt tả hạ; bồ công anh, biển súc, phục linh, sinh cam thảo để thanh nhiệt lợi thuỷ giải độc; xích thược, uất kim để thanh nhiệt lương huyết lợi đồm thoái hoàng. Phương sau hợp với phục linh, trư linh, thương truật để hoá khí lợi thấp; dùng hoàng liên, bán hạ, hậu phác để thanh nhiệt táo thấp; thạch xương bồ để phương hương hoá trọc; xích thược để tẩn tà hành huyết.

Gia giảm: Nhiệt nặng hơn thấp gặp phát nhiệt miệng khát gia tri mẫu, hoàng cầm, sinh thạch cao, lô căn. Nôn nghịch nặng gia: hoàng liên, trúc nhự, bụng chướng đầy gia chỉ thưc, hậu phác. Thấp nặng hơn nhiệt gặp phát nhiệt không nhiều gia: hoàng cầm, trúc diệp; nôn nặng gia: hoắc hương; bụng chưống gia: binh lang, chỉ thực, miệng dính tức ngực gia: trạch lan, hạnh nhân; đại tiện nát loãng gia kích đại hoàng, mộc hương. Nhiệt nặng kiêm biểu chứng dùng Cam lộ tiêu độc đơn. Thấp nặng kiêm biểu chứng dùng Tam nhân thang, kiêm tổn thương khí âm gia thái tử sâm, mạch môn đông, sinh địa hoàng; hoàng đản tiêu chậm có thể tăng lượng xích thược kèm theo gia hương phụ, biển súc, bạch mao căn.

Chú ý:

Thanh nhiệt trừ thấp nên triệt để, nhưng không nên quá độ làm tổn thương tỳ dương. Thấp nhiệt cơ bản thanh trừ, để kiện tỳ là chính, phôi hợp lấy hoá thấp sơ lợi. Thấp nhiệt toàn bộ được thanh trừ, lấy kiện tỳ hoà vị bổ thận để củng cô hiệu quả. Chứng này dùng nhân trần để thanh hoá thấp nhiệt, lượng dùng nói chung 30-60g, cho sau khi đã đun các vị thuốc khác trước để bảo tồn hiệu quả của thuốc.

Phương pháp dùng đại hoàng: đại tiện bí nên dùng sống cho sau khi đun; đại tiện nát không thông sướng nên chế dùng, lượng dùng 10-20g. Gặp bệnh tình tăng giảm lấy phủ thông nhiệt tiết là độ, nghiêm cấm dùng tả hạ kéo dài để tránh tổn thương tỳ vị.

Xích thược: công năng hoạt huyết thoái hoàng, bất luận nhiệt nặng hơn thấp hay thấp nặng hơn nhiệt đều nên dùng, liều lương nói chung 15-30g, hoàng đản nặng có thể dùng đến 60g.

Chứng này đến giai đoạn khỏi thường đã qua thời kỳ tỳ hư thấp trệ hoặc can tỳ lưỡng hư, vì thế có thể dùng Hương sa luc quân thang, Tứ vật thang, lúc này cấm dùng các thuốc khổ hàn thanh nhiệt.


Đọc thêm tại:

Read more…

Biện chứng và trị liệu bệnh hoàng đản

01:12 |
Biện chứng và trị liệu bệnh hoàng đản


Đại pháp trị liệu:

Phát bệnh hoàng đản chủ yếu do thấp tà, nẽn pháp điều trị chủ yếu là hoá thấp tà lợi tiểu tiện. Hoá thấp có thể thoái hoàng. Hoàng đản ngoại cảm thuộc vê' thấp nhiệt, điều trị lấy thanh nhiệt hoá thấp đồng thòi thông lợi phủ khí để làm cho thấp nhiệt hạ tiết; thuộc về hàn thấp nên lấy ôn trung kiện tỳ, đạm thẩm lợi thấp để làm cho thấp đi hoàng thoái. Cấp hoàng nhiệt độc tích thịnh, tà nhập tâm dinh nên lấy pháp thanh nhiệt giảỉ độc, lương dinh khai khiếu. Hoàng đẩn nội thương điều trị nện lấy điều chỉnh công năng can đởm tỳ vị là chính, có thể chọn các phép điều trị: kiện tỳ hoà vi, sơ can lợi đởm* bổ ích tỳ thận, tư dưỡng can thận,-hoạt huyết hành ứ...

Khu tà thoái hoàng cùng kết hợp với điều chỉnh công năng tạng phủ trên lâm sàng. Pháp điẹụ trị căn cứ vào tình trạng bệnh, tà thịnh suy, chính khí cưòng nhựợc, các chứng trạng chuyển hoa bệnh mới hay lâu ... mà quyết định, hoặc đơn độc sử dụng, hoặc phân chủ thứ trước sau, hoặc tương hỗ kết hợp.

Phân chứng luận trị

Tỳ vị thấp nhiệt:
Triệu chứng: Mắt vàng, toàn thân vàng, màu vàng tươi, vị quản đầy trướng, ăn kém buồn nôn, tứ chi nặng nề, tiểu vàng đỏ.
Nhiệt nặng hơn thấp: phát nhiệt, miệng đắng, miệng khát, đại tiện bí kết, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bẩn, mạch huyền sác hoặc hoạt sác. Nếu thấp nặng hơn nhiệt: miệng khô, dính bẩn, khát không muốn uống, đại tiện phân nát hoặc có phát nhiệt không cao, rêu lưỡi trắng bẩn hoặc vàng trắng bẩn, mạch nhu hởi sác hoặc huyền hoạt.

Pháp điều trị: Thanh lợi thấp nhiệt. Do vị trí bệnh ở tỳ vị, thấp nhiệt ủng trệ ở trung tiêu, tỳ vị thăng giáng thất thưòng, đởm dịch tràn ra cơ nhục bì phu, do đó cần phải thanh lợi thấp nhiệt. Nếu nhiệt nặng hơn thấp nên kết hợp với tả hạ làm cho thấp nhiệt theo đưòng nhị tiện mà ra ngoài; nếu thấp nặng hơn nhiệt, nên kết hợp vối các thuốc hoá khí lợi thấp làm cho thấp từ tiểu tiện mà ra.

Phương dược:
Phương dược thường dùng:

Nhiệt nặng hơn thấp: Dùng Nhân trần cao thang: nhân trần, chi tử, sinh đại hoàng, bồ công anh, xích thược, uất kim, biển súc, phục linh, sinh cam thảo.
Thấp nặng hơn nhiệt: Dùng Nhân trần tứ linh thang, Liên phác ẩm gia giảm: nhân trầĩi, phục lỉnh, trư linh, thương truật, hoàng liên, thạch xương bồ, hậu phác, bán hạ, xích tRừợc.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/bien-chung-va-tri-lieu-benh-hoang-p2.html


Read more…

Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt bệnh hoàng đản

01:10 |
Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt bệnh hoàng đản


Chẩn đoán:


Nam phụ lão ấu đều có thể mắc bệnh, đại đa sô bệnh khỏi phát đột ngột, có khi phát thành dịch, 4 mùa trong năm đều có thể phát bệnh.

Mắt vàng, toàn thân vàng, tiểu tiện vàng đỏ là những dấu hiệu chủ yếu để chẩn đoán, trong đó mắt vàng xuất hiện sớm nhất và cũng là dấu hiệu tiêu mất sau cùng, do đó có giá trị nhất trong chẩn đoán, cần chú ý đến yếu tô' dịch truyền nhiễm dẫn đến ngoại cảm hoàng đản, có yếu tô' thất tình bị tổn thương, uống rượu quá độ mà phát sinh nội thương hoàng đản.

Tạng can có thể sưng to hoặc thu nhỏ, cũng có thể ấn đau; tỵ có thể sưng to; cũng có thể xuất hiện cổ chướng, có thể có chi dưối phù thũng. Có khi phần bụng trên bên phải đau hoặc ấn đau hoặc đau lan lên bả vai phải.

Các xét nghiệm biểu thị hoàng đản: bilirubin trong huyết thanh tăng cao. Cũng có thê làm các xét nghiệm về chức năng gan, định lượng protein huyết tương, để tìm hiểu mức độ tổn thương gan. Còn có thể làm các xét nghiệm máu thường quy và số lượng tiểu cầu để tham khảo. Cũng có thể làm siêu âm gan mật.

Chẩn đoán phân biệt:

Hoàng đản cần phân biệt với béo vàng (Hoàng bang); uỷ vàng; thấp bệnh; phong khí mắt vàng; ăn nhiều quá màu vàng.

Chẩn đoán phân biệt vối bệnh^béo vxàng: bệnh này do trùng tích lưu ẩn trong ruột Ịàm tổn thương khí huyết gây ra. Triệu chứng: mặt đạm vàng hư phù, da cơ nhục vàng trăng mà mắt trắng, tiều tiện không vàng, kèm theo có chóng mặt, tim hồi hộp đoản khí mệt mỏi, các triệu chứng của huyết hư tổn.

Chẩn đoán phân biệt với bệnh uỷ vàng: bệnh này còn gọi là hư hoàng, phần nhiều do tỳ vị hư nhược gây ra. Do mất nhiều máu, bệnh nặng, sốt rét, ... làm khí huyết bị tổn thương mà tạo thành. Các triệu chứng để chẩn đoán phân biệt vổi hoàng đản: hai mắt không vàng, da vàng tiểu tiện thông lợi không vàng kèm theo có chóng mặt, tim.; đập nhanh hồi hộp, khí đoản mệt mỏi.

Chẩn đoán phân biệt với phong khí mắt vàng: phong khí mắt vàng là do phong khí từ dương mình xâm nhập vào vị thượng lên mắt, phong khí không tiết được rá ngòài mà gây nên. Đặc điểm của nó chỉ có mắt vàng, mà lấy khoé mắt tựơng đối rõ rệt, mật lồi lõm, mặt và toàn thân không váng, cũng không có các triệu chứng khác, phần nhiều gặp ỏ những người béo và ngưòi già. Đó là do chất béo lắng đọng dưới kết mạc mà thành.

Chẩn đoán phân biệt với thấp bệnh: thấp tà uất chưng có thể dẫn đến toàn thận vàng, mặt vàng, nhưng mắt trắng không vàng. Trong sách y học nhập môn - hoàng đản có viết về chân đoán phân biệt: “thấp bệnh và hoàng đản gần giống nhau, nhưng thấp bệnh tại biểu, hoàng bệnh tại lý”.

Chẩn đoán phân biệt với ăn nhiều rau củ vàng: ăn quá nhỉểu củ cà rôt làm cho da phát hoàng nhưng chủ yếu ở long bàn tay bàn chân, trước trán và mũi, mắt trắng không vàng, cũng không có các triệu chứng khác.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/bien-chung-va-tri-lieu-benh-hoang-an.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: dấu hiệu bệnh gan, cây chữa bệnh gan
Read more…

Một số vấn để khó trong điểu trị hoàng đản

01:10 |
Một số vấn để khó trong điểu trị hoàng đản


Trong Kim quỹ yếu lược, bệnh hoàng đản, mạch chứng kiêm trị, ngưòi xưa viết: “Bệnh hoàng đản, lấy thời gian 18 ngày làm một chu kỳ điều trị, chữa 10 ngày trỏ lên thì giảm, nếu không giảm mà lại nặng thêm thì khó chữa” [30}, {89]. Đó là tổng kết kinh nghiệm của cổ nhân đối với điều trị bệnh này. Hoàng đản nói chung, qua sự tích cực điều trị, trong một trời gian ngắn có thể tiêu mất. Nếu như qua điều trị mà ngược m nặng lên, tức là bệnh thuộc khó trị.

Trong hoàng đản khó trị trước tiên phải kể đến cấp hoàng. Cấp hoàng phát bệnh cấp, nhiệt độc cực thịnh, hoàng đản tiến triển nhanh, trong thòi gian ngắn tà độc tiềm ẩn bên trong tâm dinh, bức huyết vong hành, dẫn đến thần mê nói lảm nhảm, ban xuất huyết dưới da, chảy máu cam, tỷ lệ tử vong cao nên cần tích cực và kịp thòi điều trị.

Hoàng đản trỏ trệ do nhiệt độc ứ trệ bên trong đường mật nếu điều trị không kịp thời hoặc điều trị sai, có thể nhanh chóng chuyển thành bệnh khó trị, do nhiệt độc mù mịt chính không thắng tà, có thể xuất hiện các chứng nội bế ngoại thoát. Trong bế có thể gặp sốt cao thần mê, hoàng đản nặng, ngoài thoát gặp tứ chi quyết lạnh, mồ hôi ra nhiều, mạch te nhược mà vi, lộ ra xu thế âm dương lý quyết, bệnh tình rất nguy hiểm cần phải nhanh chóng điều trị.

Hoàng đản kéo dài ngày hoặc điều trị không đối chứng, có thể do tỳ vị dương khí bị tổn thương, khí huyết vận hành không thông sướng, dần dần dẫn đến thấp trọc ứ trệ can tỳ, làm hạ sườn tích tụ, phát sinh cổ trưóng ...

Hoàng đản phát sinh ở những người già, nếu gặp hình thể gày, tinh thần kém, mệt mỏi, hoàng đản nặng hoặc đại tiện phân trắng, cần nghĩ đến ung thư can đỏm, tiên lượng rất kém.

Một số bệnh nhân hoàng đản kéo dài lưu lại không thoái, mà các triệu chứng lâm sàng không rõ rệt, thuộc dư hoàng (hoàng đản còn lưu lại), tiên lượng tương đối tốt.


Đọc thêm tại:

Read more…

Các triệu chứng lâm sàng bệnh hoàng đản

01:08 |
Các triệu chứng lâm sàng bệnh hoàng đản


Nắm chắc các triệu chứng chính: mật vàng, toàn thân vàng, tiểu tiện vàng đỏ, mệt mỏi vô lực.

Phân tích vị trí bệnh: vị trí của bệnh hoàng đản chủ yếu ở tỳ vị, can thận, cũng cố thể ở tâm doanh.

+ Sợ lạnh phát nhiệt, đậu nặng toàn, thân mệt mỏi ăn uống kém lưõi bẩn, sắc vàng tươi đó là thấp nhiệt ngoại xâm, nội phạm trung tiêu, vị trí bệnh ở tỳ vị.

+ Hoàng đản  hiệp sườn chướng đau, miệng đắng, nôn, mạch huyền, vị trí bệnh tại cạn đỏm.

+ Hoàng đản khỏi phát cấp tiến triển nhanh nặng, phiền táo sốt cẩo, thần mệ nối lảm nhảm, nôn ra máu, đại tiện rạ. máu, dưõi da có những nốt bạn, bệnh ở tại can đỏm, tỵ vị, kèm theo xâm nhập sâu tâm dinh.

Hoàng đản sắc: tối, sợ lạnh tứ chi lạnh, ăn ít, đại tiện nát, hạ sườn sưng đau bệnh tại can tỳ.

Xác định về tính chất bệnh:

Sự phát sinh ra hoàng đản chủ yếu là do thấp tà, tính chất bệnh của nó phận thành thấp nhiệt và hàn thấp, tiếp đến là nhiệt độc.

+ Toàn thân, mắt vàng tươi, phát nhiệt, miệng khát, tâm phiền, bụng chưởng đau, đại tiện bí kết," rêu vàng bẩn, chất lưỡi đỏ, mạch huyền sác hoặc hoạt sác, tính chất bệnh là nhiệt nặng hơn thấp, thuộc dương hoàng.

+ Toàn thân, mắt vàng, đầu nặng, mình đau, vị quản chướng đầy, khát không muôn uống, lưỡi trắng bẩn, mạch nhu hoạt, tính chất bệnh thuộc thấp nặng hơn nhiệt, thuộc dương hoàng.

+ Hoàng đản nặng sốt cao phiền khát, không nằm yên, thần mê co rút, chảy máu cam, ban chẩn, tính chất bệnh thuộc nhiệt độc, đa phần là cấp hoàng.

+ Hoàng đản sắc tối, mệt mỏi sợ lạnh, bụng chướng đầy, đại tiện nát loãng, lưỡi đạm bệu, mạch trầm tế mà trì, tính chất bệnh là hàn thấp, thuộc âm hoàng.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/mot-so-van-e-kho-trong-ieu-tri-hoang-an.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: chữa bệnh gan, cây chữa bệnh gan
Read more…

Cơ chế bệnh sinh của từng chứng loại p2

01:05 |


Nhiệt độc cực thịnh
Cơ chế bệnh sinh của từng chứng loại p2
thòi khỉ nhiệt độc xâm nhập cơ thể, can bị tổn thương, can đỏm có quan hệ biểu lý nên ảnh hưỏng gây đỏm dịch tràn ra xâm nhập bì phu, hạ trú ỏ bàng quang gây ra mặt, mắt, bì phu, tiểu tiện vàng. Nhiệt độc dịch kịch liệt làm hoang đản chóng nặng lên, nhiệt độc tích bên trong, thiêu đốt tân dịch làm sốt cao phiền táo, miệng khát, tiểu ít. Nhiệt kết dương minh, vị mất hoà giáng, phủ khí không thông làm nôn nhiều, bụng trướng, chán ăn, đại tiện bí kết. Nhiệt độc cực thịnh tổn thương nguyên khí, dẫn đến tinh thần rối loạn, mệt mỏi cực độ.

Nhiệt độc tiềm ẩn bên trong: Đa số do thời khí dịch độc xâm nhập, Số ít do chứng hậu thấp nhiệt chuyển hóa gây ra. Dịch tà nhiệt độc bêh trong thiêu đốt can đởm, lượng lớn dịch mật tràn ra ngoài gây nên hoàng đản- nặng, toàn thân vàng. Nliiệt độc tích thịnh tổn thương âm dịch dẫn đến sốt cao miệng khát, nhiệt độc bí trệ ở bàng quang, không khí hoá được gây tiểu tiện bí. Nhiệt độc xâm nhập vào dinh huyết, bức huyết vong hành làm cho nổi ban tím dưới da, chảy máu cam, nôn ra máu, đại tiện ra máu. Nhiệt độc tiềm ẩn ở tâm bào, thượng lên nhiễu loạn thần minh làm cho thần chí rối loạn, nói năng lảm nhảm, động tác bất thưòng. Nhiệt độc tổn thương can đỏm, nhiệt thịnh động phong gây co rút., Nhiệt độc tôn thương nguyên khí, chính khí khống chông đổ được làm cho tinh thần mệt mỏi.

Hàn thấp tổn tỳ: Hàn thấp ngoại tà xâm nhập hoặc tỳ vị nộí thương, dương khí bị cản trồ hàn thấp nội sinh trỗ trệ trung tiêu dẫn đến càn đỏm mất sơ tiết, đỏm dịch tràn ra ngoài mà phát hoàng, sắc vàng tồi; dương khí bị trỏ trệ không thể ôri ấm được tứ chỉ gây sợ lạnh tứ chi lạnh; tỳ thổ mất ôn ấm làm cho ăn ít, bụng đầy trướng, đại tiện nát.

Âm hư thấp trở: Ngoại cảm thấp nhiệt lâu tỳ vị nội thương, thấp nhiệt đình trệ không tán dẫn đến nhiệt tà thương âm, thấp tà tổn hại đến can thận âm gây huyễn vựng, lưng đau, tai ù, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ... Thấp là âm tà, tính của nó là ứ trệ, tổn thương ở tỳ mà xuất hiện các hiện tượng của thấp tà tổn tỳ như: sắc vàng tối, ăn ít, tứ chi mỏi, vi quản trướng đau, lưõi bẩn.

Can tỳ huyết ứ: Thất tình tổn thương, can khí uất, uống rượu vô độ, tạng phủ mất điều hoà thấp nhiệt dịch độc đình lưu, dẫn đến khí huyết vận hành trỏ trệ, ứ trệ hải bên mạng sườn, do đó can đỏm không thể sơ tiết, sự lưu tiết đỏm dịch bị trơ trệ tràn ra mà phát hoàng đản. ứ trệ hai bên hạ sườn làm cho hạ sườn đau; khí huyết vận hành bị trỏ trệ, bì phu mất sự nhu dưỡng hoặc bệnh lâu huyết bị tổn thương mà sắc mắt tối, chất lưỡi tím.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/cac-trieu-chung-lam-sang-benh-hoang-an.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: triệu chứng bệnh gan, cay cho de chua benh gi

Read more…

Cơ chế bệnh sinh của từng chứng loại

01:05 |
Cơ chế bệnh sinh của từng chứng loại


Nguyên nhân .chính của hoàng đản Ịà thấp. Do thấp trệ ỏ trung tiêu, công năng tỳ vị suy yếu, ảnh hưỏng đến sơ tiết của Gan đỏm mà dẫn đến đỏm dịch không đi theo đường bình thường mà thấm nhập vào huyết dịch, tràn ra bì phu mà phát sinh hoàng đản.

Tỳ vị thấp nhiệt: Ngoại cảm thấp nhiệt hoặc ăn uông không điều hoà, uống rượu quá độ lâu dần gây thành thấp nhiệt, tích kết ỏ tỳ vị, chưng đốt can đỏm làm can mất sơ tiết, dịch đởm tràn ra ngoài mà phật hoàng, sắc vàng tươi. Thấp nhiệt ứ trệ ở trung tiêu, tỳ vị vận hoà bất lợi, thăng giáng thất thường gây nên vị quản đầy trướng, ăn kém, buồn nôn, tứ chi năng nề- nhiệt tà thịnh bên trong hoặc nhiệt kết ở vị phủ làm cho tổn thương tân dịch: miệng khát, tiện bí; thấp nhiệt lưu ở bàng quang, khí hoá bất lợi làm tiểu tiện ít, đỏ.

Can đồm thấp nhiệt: Thấp nhiệt ngoại tà xâm nhập hoặc uống rượu quá độ, thấp nhiệt nội sinh chưng đốt can đỏm, làm can mất tính nhu hoà, đởm dịch tràn ra gây hoàng đản sắc vàng tươi; thấp nhiệt trỏ trệ can đởm khí huyết vận hành không thông gây hạ sườn trướng đau; thấp nhiệt trở trệ ỏ trung tiêu, tỳ vị vận hoá thất thường, thăng giáng bất lợi, sinh ra ăn kém, buồn nôn, miệng đắng, bụng trướng; thấp nhiệt trỏ trệ ồ hạ tiêu, bàng quang khí hoá bất lợi dẫn đến tiểu vàng và đỏ.

Đỏm nhiệt ứ kết: Ăn uống không điều độ hoặc uống rượu vô độ, tạng phủ mất điều hoà, đồm phủ ứ nhiệt hoặc đỏm phủ ứ nhiệt không tán, lâu ngày chưng đốt kết thành sỏi dẫn đến dịch mật sơ tiết bị trỗ trệ, tràn ra mà phát hoàng. Đỏm nhiệt ứ kết, tổn thương đến can, khí huyết ứ trệ dẫn đến mạng sườn phải trướng đau, nhiệt đau cự án, đau có xu thế mạnh lên, thậm chí đau lan lên bả vai. Đỏm nhiệt ứ trệ dẫn đến can đỏm khí nghịch, xuất hiện miệng đắng, nôn ra dịch mật, tỳ vị do ứ nhiệt trỏ trệ, vận hoá thăng giáng bất thường gây nên bụng đầy trưống, đại tiện bí kết. ứ nhiệt bên trong thiêu đốt dương minh hoặc xâm nhập vào thiếu đương gây nên sốt cao phiền táo hoặc hàn nhiệt vãng lai. ứ nhiệt lưu trú ỏ hạ tiêu làm tiểu tiện ít đỏ, nóng rát.

Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/co-che-benh-sinh-cua-tung-chung-loai-p2.html


Read more…

Sự chuyển hoá các triệu chứng của hoàng đản

01:01 |
Sự chuyển hoá các triệu chứng của hoàng đản


Dương hoàng phát triển thành cấp hoàng (chứng dương hoàng nặng): do thấp hhiệt tích độc nặng, triệu chứng thưòng là nặng, hoàng đản tăng nhanh, toàn thân sắc vàng kim, sốt cao phiền táo, nỗn nhiều hoặc xuất huyết, hôn mê co giật... Đó là; triệú dhứng của nhiệt độc chưng đốt can đồm hoặc nhiệt độc nhập vào dinh huyết phận.

Am hoàng, dương hoàng chuyển hoá hỗ tường.

Dương hoàng chuyển thành âm hoàng là do kéo dài không khỏi, tỳ vị bị tổn thương xuất hiện cấc triệu chứng của hàn thấp tổn tỳ do thấp từ hàn mà hoá như sợ lạnh, thích ấm, ăn ít, bụng trướng, đại tiện nát, lưỡi nhợt, sắc vàng tồi ... hoặc các triệu chứng của cah tỳ huyết ứ do thấp ứ như sắc vàng tối xạm, hạ sưòn đau.

Âm hoàng chuyển hoá thành dừơng hoàng, đã qua giai đoạn thấp từ nhiệt hoá, hoàng đản chuyển thành vàng tươi kèm theo xuất hiện bụng đầy trướng, miệng đắng, đau hạ sườn, lưỡi đỏ, rêu vàng. Đó là các triệu chứng của thấp nhiệt ứ kết bên trong.

Bất luận âm hoàng hay dương hoàng đều có thể do ứ trệ thấp, thuỷ tràn vào ổ bụng mà gây ra tiểu ít, cổ trướng, một số ít bệnh nhân do đàm độc hỗ kết, diễn biến thành các chứng hậu của ung thư như vùng hạ sưòn sưng to, cứng lồi lõm.

Nguyên nhân ,Cơ chế bệnh sinh

а. Nguyên nhân.
Nguyên nhân nguyên phát. Thời khí dịch độc: thấp nhiệt hoặc hàn thấp là nguyên nhân dẫn đến hoàng đản ngoại cảm. Lao lực quá độ, uống rượu nhiều, thất tình dẫn đến tạng phủ bị tổn thương là nguyên nhân dẫn đến hoàng đản nội thương.

Nguyên nhân thứ phát.Sỏi, giun ứ tắc trong đưòng mật .Tích trệ lâu ngày không tiêu hoặc ứ huyết trỏ trệ đường mật.Yếu tô thuận lợi: cảm phải ngoại tà, ăn uống mất điều độ, sắc dục tổn thương đều có thể là yếu tố thuận lợi gây bệnh hoặc làm cho bệnh nặng thêm.

б. Cơ chế bệnh sinh.
Phát bệnh:

Hoàng đản do cảm phải ngoại tà hoặc hoàng đản do sỏi, giun tắc đường mật phát bệnh tương đối cấp. Nếu thấp nhiệt hiệp với tà dịch độc xâm nhập thì bệnh có xu thế càng cấp, tính lây lan tương đối mạnh. Hoàng đản nội thương nói chung phát bệnh tương đôì chậm.

Vị trí bệnh: tại can đỏm, tỳ vị, tâm thận.

Đọc thêm tại:


Read more…