Cà gai leo, cây chó đẻ chữa bệnh gan
02:04 |Còn gọi là cà quính, cà quáng, cà gai dây, cà lù, chẻ nam (Tày), b’rongoon (Bana), trapkhar (Campuchia), blouxit (Lào). Tên khoa học Salanum procumbens Lour (Solanum hainanense Hance), họ Cà (Solanaceae).
Thành phần hoá học bao gồm:
Glucoalcaloid: solasonin, solasodin, solasodinon.
Acid amin: prolin, hydroxypolin, methionin.
Acid nhân thơm: acid chlorogenic, acid caffeic.
Flavonoid.
Trong rễ cà gai leo có glucoalcaloid, là những chất có cấu trúc steroid, do đó cũng có thể có tác dụng chống viêm và ức chế tổng hợp colagen như một số corticoid khác.
Theo Trịnh Thị Xuân Hoà, HAINA (chiết xuất từ cây cà gai leo) làm giảm nhanh các triệu chứng lâm sàng, men aminotransferase, bilirubin, ỏ bệnh nhân viêm gan B mạn hoạt động. Trên hình ảnh siêu cấu trúc gan cũng thấy hồi phục rõ rệt của các bảo quan, nhân và màng nhân tế bào gan; ngoài ra còn làm tỷ lệ xuất hiện anti-HBe cao hơn so với lô phứng [9].
Chó đẻ răng cưa
Còn có tên khác là: chó đẻ thân xanh, diệp hạ châu, diệp hoè thái. Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Thành phần hoá học: Lá chứa một chất đắng là phyllanthin không có quinine hoặc một alcaloid khác. Lá khô chứa những chất đăng hypophyllanthin (Ọ,05%) và phyllanthin (0,35%) có độc với cá và ếch. Trong cây còn có niranthin, nirtetralin và phylteralin .
Tính vị - Công dụng: có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết. ở Ấn Độ, người ta dùng toàn cây làm thuốc lợi tiểu trong bênh phù, bệnh lậu và những rối loạn của đường niệu, sinh dục. Nưốc sắc chồi non dùng trị lỵ; rễ tươi làm thuốc trị vàng da, lá làm thuốc lợi tiêu hoá; dịch lá dùng đắp vết lỏ loét. Hiện nay nó là cây thuốíc quan trọng trong các bài thuốc chữa viêm gan siêu vi ở Ấn Độ .
ở Ấn Độ, phát hiện thấy kết quả khả quan của Picroliv (trong đó có Silimarin, Phyllanthụs niruri) trong nghiên cứu in vitro tác dụng của các sản phẩm tự nhiên chông HBV .Một nghiên cứu khác chứng minh rằng Phýllanthus amarus, toàn bộ cây trừ rễ, mọc ỗ trung tâm Thái lan, được cho uống vối liều 600-1200 mg/ngày trong thời gian 2 tháng, chỉ có một hiệu quả tối thiểu trong loại bỏ HBsAg khỏi những người lốn mang virus không triệu chứng.
Home























Previous Article