4 nhóm hoá chất điều trị gan p2
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
INTERFERON ALPHA (IFN- a):
Interferon có tác dụng kháng virus trong nhiễm HBV qua hai eơ chế:
- ức chế tổng hợp DNA của virus và hoạt hoá các men, kháng virus.
- Tăng cường hiệu quả đáp ững miễn dịch tế bào đối vói các tế bào gan bị nhiễm bằng tăng cưòng sự trình diện kháng nguyên phù hợp mô lốp I vằ bằng kích thích hoạt tính của các lympho T hỗ trợ và cua các tế bào sát thủ tự nhiên. Như vậy Interferon alpha trong giai đoạn đầu làm giảm nhanh sự nhân lên của virus, được phản ánh bằng sự giảm DNA virus trong huyết thanh, sau đó ỗ giai đbạn hai (khoảng hai tháng sau) là aminotransferase lại cao lên, sau đó aminotransferase mới dần trỗ lại bình thưòng.
Một số yếu tố có ảnh hưỏng xấu đến sự đáp ứng như:
Trong trường hợp đồng nhiễm HIV, hiệu quả kháng virus sẽ giảm.
Nhiễm HBV từ lúc sinh hoặc từ sớm trong cuộe sống như hay gặp ỗ những vùng dịch tế nặng ồ Châu Á.
Nhược điểm của Interíeron là GÓ nhiều tác dụng phụ. Vì vậy nhiều trường hợp ịbệnh nhân sợ và bộ cuộc. Các tác dụng phụ như:
Hội chứng giông cảm cúm gồm sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi xuất hiện ngay sau tiêm một vài giờ.
Tác động ức chế tuỷ xương: bạch cầu giảm, tiểu cầu giảiỊỊ, thiếu máu.
Tác dụng phụ hiếm gặp nhưng nặng như xôi loạn tâm thần kinh, động kinh, cường hoặc nhược giáp.
Chỉ định: Viêm gan virus mạn tính. Phản chỉ điịnh viêm gan virus cấp.
CÁC THUỐC HỌ NUCLEOSIDE
Các thuốc này ,CQ tác dụng đối yốị các virus DNA như HBV, HIV. I
Cơ chế tác động: Các chất , đồng đẳng nueleosid muốn có tác dụng chống virus cần phải được phosphoryl hoá. Chúng được ưu tiên tiếp nhận bởi các enzyme củá virus hơn là của tế bào chủ. Thể Triphosphat của thuốc được gắn kết vào DNA của virus gây ra sự kết thúc của chuỗi do đó ức chế virus nhân lên. HBV nhân lên nhờ sự trợ giúp của men phiên mã ngược (reverse transcriptase, ítT) Nhiều cấu trúc và chuỗi protein trong RT của HBV vằ retrovirus tươrig tự. Do đó cũng dễ hiểu là những thuốc này ức chế HIV trong nuôi cấy curig ức chế HBV trong các tế bào gan bị nhiễm.
Hiện 4 đồng đẳng nucleoside được ứng dụng điểu trị VGB: Íamciclovir, lamivudine, ađéfovừ và labucavỉr. Riêng labucavừ đã được loại trừ vì độc tính cao. Hai thuốc được ứng dụng nhiều là vidarabine và lamivudine.
Lamivudine (Jeffix, Epivir, Hivir):
Cơ chế: là một đồng đẳng nucleosiđ: (-)-2, 3-dideoxy-3 thiacytidine. Như vậy thuốic có cấu hình âm, một cấu hình ngược lại cùa các nucleosidé tự nhiên có cấu hình dương. Các protein người tương tác vói các nuclếosittè tỉứíờrig cổ tihh chọn lọc cao với cấu hình dương. Do đó không tương tác với lamivudine. Nhò vậy laraivudine chỉ tác động đến virus và hầu như không độc cho tế bào chủ.
+ Thuốc gắn kết vào HBV-DNA vừa mới tổng hợp làm ngừng quá trình tổng hợp này
+ ức chế tương tranh mạnk trên DNA-polymerase mã hoá của virus, ngược lại ức chế tương tranh yếu vói DNA- polymerạse củạ tế bào chủ.
Lamivudine không có tác dụng trến các tác nhân gây bệnh khác của người như các loại virus viêm gan khác, herpes virus, vi khuẩn, nấm
Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/4-nhom-hoa-chat-ieu-tri-gan-p3.html
Chỉ định: Viêm gan virus mạn tính. Phản chỉ điịnh viêm gan virus cấp.
CÁC THUỐC HỌ NUCLEOSIDE
Các thuốc này ,CQ tác dụng đối yốị các virus DNA như HBV, HIV. I
Cơ chế tác động: Các chất , đồng đẳng nueleosid muốn có tác dụng chống virus cần phải được phosphoryl hoá. Chúng được ưu tiên tiếp nhận bởi các enzyme củá virus hơn là của tế bào chủ. Thể Triphosphat của thuốc được gắn kết vào DNA của virus gây ra sự kết thúc của chuỗi do đó ức chế virus nhân lên. HBV nhân lên nhờ sự trợ giúp của men phiên mã ngược (reverse transcriptase, ítT) Nhiều cấu trúc và chuỗi protein trong RT của HBV vằ retrovirus tươrig tự. Do đó cũng dễ hiểu là những thuốc này ức chế HIV trong nuôi cấy curig ức chế HBV trong các tế bào gan bị nhiễm.
Hiện 4 đồng đẳng nucleoside được ứng dụng điểu trị VGB: Íamciclovir, lamivudine, ađéfovừ và labucavỉr. Riêng labucavừ đã được loại trừ vì độc tính cao. Hai thuốc được ứng dụng nhiều là vidarabine và lamivudine.
Lamivudine (Jeffix, Epivir, Hivir):
Cơ chế: là một đồng đẳng nucleosiđ: (-)-2, 3-dideoxy-3 thiacytidine. Như vậy thuốic có cấu hình âm, một cấu hình ngược lại cùa các nucleosidé tự nhiên có cấu hình dương. Các protein người tương tác vói các nuclếosittè tỉứíờrig cổ tihh chọn lọc cao với cấu hình dương. Do đó không tương tác với lamivudine. Nhò vậy laraivudine chỉ tác động đến virus và hầu như không độc cho tế bào chủ.
+ Thuốc gắn kết vào HBV-DNA vừa mới tổng hợp làm ngừng quá trình tổng hợp này
+ ức chế tương tranh mạnk trên DNA-polymerase mã hoá của virus, ngược lại ức chế tương tranh yếu vói DNA- polymerạse củạ tế bào chủ.
Lamivudine không có tác dụng trến các tác nhân gây bệnh khác của người như các loại virus viêm gan khác, herpes virus, vi khuẩn, nấm
Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/4-nhom-hoa-chat-ieu-tri-gan-p3.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: chữa bệnh gan, cây
chữa bệnh gan
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét