Triệu chứng và phương pháp điều trị nhiệt độc nội ẩn
Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014
Triệu chứng:‘Mặt, mắt, toàn thân vàng, khỏi bệnh cấp và nhanh chóng gia. tăng, sột cao không hạ, dưới da có nốt ban tím xuất huyết, chảy máu chân răng, nôn, ra máu, đại tiện ra máu, tinh thần không tỉnh táo, nói năng lảm nhảm, có những động tấc bất thường hoặc phát cuồng loạn, co rút, tiêu ít váng đổ hoặc bí tiểu tiện. Có thể: không muôn ăn, nôn nhiều, bụng trướng, đại tiện không thông, chất lưỡi đỏ giáng, rêu vàng bẩn hoặc ít rêu, mạch huyền tế sác.
Pháp điều trị: Thanh dinh giải độc, lương huyết chỉ huyết. Chứng này do nhiệt độc nội ẩn tâm dinh, tà độc xâm nhập bức huyết vong hành mà gây ra, do đó cần phải cấp dùng thanh dinh giải độc, lương huyết chỉ Huyết kết hợp vối khai khiếu tức phong.
Phướng dược:
Phương dược thường dung: Thanh dinh thang gia giảm: kim ngân hoa, hoàng liên, chi tử, liên kiều, sinh địa hoàng, mạch môn đông, đại .nguyên sâm, đan bì, xích thược, đại hoàng, nhân trần, sừng tê giác.
Trong phương sừng tê giác (hoặc thay bằng sừng trâu) tính đạm hàn giải nhiệt độc ỏ dinh phận. Kim ngân hoa, hoàng liên, chi tử, liên kiều thanh tâm giải độc; sinh địa hoàng, mạch đông, nguyên họa thạnh nhiệt dưỡng âm; đan bì, xích thược lương huyết tán huyết; nhân trần, đại hoàng tả nhiệt thoái hoàng.
Gia giảm: Nếu hoàng đảri nặng, gia bán biên niên, hô trượng, bạch hoa xà thiệt thảo, biển súc. Nếu chiều tốỉ mà sốt cao gia tri mẫu, bạch vi, miết giáp. Nếu dưói da nổi ban xuất huyết gia thang ma, tử thảo, đại thanh diệp> Nếu xuất huyết nặng gia: địa du, trắc bách diệp, tam thất, bột đại hoàng, ... Nếu thần không tỉnh nói lảm nhảm gia An cung ngưu hoàng hoàn. Nếu cuồng, co rút nặng gia linh dương giác, địa long, câu đằng, thiên ma. Nếu bụng chướng to, phủ khí không thông gia binh lang, phác tiêu. Nếu tiểu tiện ngắn đỏ gia biển súc, cù mạch, mộc thông, sa tiền tử; nôn nghịch nặng gia trúc nhự, bán hạ, đại giả thạch,...
1 - Chú ý:
Chứng này là tà thịnh tiềm ẩn bên trong, phần nhiều dấn đến khí huyết âm dương bị tổn thương, về điều trị không thể tiến bổ trệ tà mà cần phải kịp thời phù chính để tránh chính khí bị hư tổn, nguy hiểm sẽ phát sinh.
Khi bệnh nhân xuất hiện tinh thần rốỉ loan, mệt mỏi cực độ, tức là biểu hiện của khí hư, cần phải cấp dùng nhân sâm, tây dương sâm để bổ khí phòng thoát.
Nếu mạch tế tứ chi lạnh là dương suy cần phải cấp gia thêm phụ tử, nhân sâm, can khương để hồi dương cố thoát.
Nếu bệnh nhân có tô' chất thể hư rất dễ phát sinh can thận dương khí suy kiệt xuất hiện tinh thần thò ơ, tiếng nói nhỏ yếu, mồ hôi ra như dầu,; tứ chi quyết nghịch, cần cấp dùng hồi dương cứu nghịch, cô' thoát khai khiếu.
Ngoài ra cần phải theo dõi sát hiện tượng xuất huyết, thần chí và những thay đổi về động thái.
Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/trieu-chung-va-ieu-tri-benh-am-hu-thap.html
Phướng dược:
Phương dược thường dung: Thanh dinh thang gia giảm: kim ngân hoa, hoàng liên, chi tử, liên kiều, sinh địa hoàng, mạch môn đông, đại .nguyên sâm, đan bì, xích thược, đại hoàng, nhân trần, sừng tê giác.
Trong phương sừng tê giác (hoặc thay bằng sừng trâu) tính đạm hàn giải nhiệt độc ỏ dinh phận. Kim ngân hoa, hoàng liên, chi tử, liên kiều thanh tâm giải độc; sinh địa hoàng, mạch đông, nguyên họa thạnh nhiệt dưỡng âm; đan bì, xích thược lương huyết tán huyết; nhân trần, đại hoàng tả nhiệt thoái hoàng.
Gia giảm: Nếu hoàng đảri nặng, gia bán biên niên, hô trượng, bạch hoa xà thiệt thảo, biển súc. Nếu chiều tốỉ mà sốt cao gia tri mẫu, bạch vi, miết giáp. Nếu dưói da nổi ban xuất huyết gia thang ma, tử thảo, đại thanh diệp> Nếu xuất huyết nặng gia: địa du, trắc bách diệp, tam thất, bột đại hoàng, ... Nếu thần không tỉnh nói lảm nhảm gia An cung ngưu hoàng hoàn. Nếu cuồng, co rút nặng gia linh dương giác, địa long, câu đằng, thiên ma. Nếu bụng chướng to, phủ khí không thông gia binh lang, phác tiêu. Nếu tiểu tiện ngắn đỏ gia biển súc, cù mạch, mộc thông, sa tiền tử; nôn nghịch nặng gia trúc nhự, bán hạ, đại giả thạch,...
1 - Chú ý:
Chứng này là tà thịnh tiềm ẩn bên trong, phần nhiều dấn đến khí huyết âm dương bị tổn thương, về điều trị không thể tiến bổ trệ tà mà cần phải kịp thời phù chính để tránh chính khí bị hư tổn, nguy hiểm sẽ phát sinh.
Khi bệnh nhân xuất hiện tinh thần rốỉ loan, mệt mỏi cực độ, tức là biểu hiện của khí hư, cần phải cấp dùng nhân sâm, tây dương sâm để bổ khí phòng thoát.
Nếu mạch tế tứ chi lạnh là dương suy cần phải cấp gia thêm phụ tử, nhân sâm, can khương để hồi dương cố thoát.
Nếu bệnh nhân có tô' chất thể hư rất dễ phát sinh can thận dương khí suy kiệt xuất hiện tinh thần thò ơ, tiếng nói nhỏ yếu, mồ hôi ra như dầu,; tứ chi quyết nghịch, cần cấp dùng hồi dương cứu nghịch, cô' thoát khai khiếu.
Ngoài ra cần phải theo dõi sát hiện tượng xuất huyết, thần chí và những thay đổi về động thái.
Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/trieu-chung-va-ieu-tri-benh-am-hu-thap.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: chữa bệnh gan, cây
chữa bệnh gan
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét