Triệu chứng và cách trị liệu Can tỳ huyết ứ
Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014
Triệu chứng: toàn thân, mắt vàng sắc tối, hạ sườn có tích, có thể thấy khối tích đó trướng đau, sắc mặt tối trệ hoặc tối đen, phần bụng có đường gân xanh nổi rõ. Chất lưỡi tối hoặc tím tối hoặc hai bên có điểm ứ. Mạch tế sáp. Nếu hiệp vối hàn thấy chi lạnh, khối tích đau chườm nóng đõ đau, chất lưỡi đạm tối, rêu lưỡi trắng hoạt, mạch trầm tế trì. Nếu hiệp với nhiệt có thể thấy da khô, chảy máu mũi, đại tiện ra máu, chất lưỡi tối đỏ, rêu lưỡi vàng nhợt hoặc vàng bẩn ít tân địch, mạch huyền sáp mà sác. Nếu hiệp với âm bị tổn thương có thể thấy hình thể gày, cốt trưng triều nhiệt; da, móng tay, móng chân khô, chất lựdi tối đỏ, ít rêu. Mạch tế sáp sác.
Pháp điều trị: Hoá ứ tiêu trưng (kết báng ỏ bụng). Hoàng đản lâu ngày, trọc tà ứ trở mạch lạc, kẹt ở hạ sưòn, khí trệ huyết ứ, dần dần hình thành khối trưng, do đó cần phải hoá ứ tiêu trưng
Phương dược:
Phương dược thường dùng: Cách hạ trục ứ thang gia giảm kết hợp uống Miết giáp tiễn hoàn: đào nhân, hồng hoa, xuyên khung, xích thược, ngũ linh chi, đan bì, hương phụ, chỉ xác, diên hồ sách, sinh hoàng kỳ, nhân trần, trạch tả.
Trong phương đào nhân, hồng hoạ, xuyền khung, xích thược, đan bì, ngũ linh chĩ huyết hoá ứ; hương phụ, chỉ xác, diên hồ sách lý khí thông lạc chỉ thống; nhân trần, trạch tả lợi thấp thoái hoàng; hoàng kỳ ích khí kiện tỳ. Gia Miết giáp tiễn hoàn để nhuyễn kiên tán kết, phá huyết công ứ, sơ thông ứ trệ ỏ can kinh mạch lạc.
Gia giảm:
Nếu bụng trưống đau gia hậu phác, mộc hương; ăn kém gia kê nội kim; nếu khí nặng tằng lượng hoàng kỳ 20-40g; kèm thêm gia đảng sâm, nếu hạ sưòn nổi u tương đối cứng, trưống đau gia xuyên sơn giáp, tam láng, nga truật, hẫi tảo. Nêu có Xuất huyết như chảy máu cam, chảy máu chân răng gia tam thất, bạch mao căn. Nếu ĩiôn ra máu, đại tiện ra máu gia tam thất, bạch cập, địa duj huyết dư thán. Nếu chứng này kiêm thêm hàn thấp khôn tỳ thì phương này bỏ đào nhân, xích thược, đan bì, gia phụ tử, can khươrig, đảng sâm, bạch truật. Nếu kiêm âm bị tổn thương gia sinh địa, mạch đông, nữ trinh tử. Nếu có huyết nhiệt xuất huyêt thì trước tiên phải thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết. Sau khi huyết dừng mới tuỳ theo tình hình mà cho uống phương này, lấy Tê giác địa hoàng thang gia chi tử, liên kiều, tử thảo,...
Chú ý:
Chứng này lấy huyết ứ là chính, nhưng bệnh lâu ngày thường dẫn đến chính khí hư do đó cần phải phối thêm các vị thuốc bổ ích, tiêu bản kiêm trị. ứng dụng hoạt huyết hoá ứ cần phải chú ý quan sát có hay không hiện tượng động huyết, từ đó mà chọn thuốc và liều lượng để điều chỉnh.
Sau khi hoàng đản đã hết nên kiện tỳ dưỡng can bổ thận, phối hợp vối một ít các vị hành khí hoạt huyết để củng cô hiệu quả điều trị.
Huyết ứ có nhiều nguyên nhân khác nhau: do hàn, do nhiệt, do thấp, do đàm, do khí. Nếu do hàn dùng các vị thuốc tân ôn hoạt huyết như: đào nhân, hồng hoa, xuyên khùng, đương quy vỹ. Nếu do nhiệt dùng các vị thuôc lương huyết hoạt huyết, đạm hàn hoá ứ như: xích thược, đan bì, thuỷ điệt. Nếu do đàm cần phôi thêm các vị thuốc hải tảo, côn bộ, hải phũ .hạch để nhuyễn kiên hoá đàm. Nếu do khí cần phôi thêm các vị thuốc trừ khí như: hương phụ, chỉ xác, sài hồ có thể nâng cao hiệu quả điều trị.
Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/tien-luong-benh-hoang-an.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: các bệnh về gan, cây
chó đẻ chữa bệnh gan
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét