Sự phát triển hoàng đản trong lịch sử p2
Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014
Ở Việt Nam:
Tuệ Tĩnh, một danh y Việt Nam (thế kỷ XIV) cũng chia ra ngũ đản, song lấy hoàng hãn thay hắc đản, gồm: hoàng hãn, hoàng đản, tửu đản, cốc đản, nữ lao đản . Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ XVIII) cho hoàng đản là bệnh thuộc thấp, ví như men rượu ủ ấp thấp nhiệt làm ngấu nát mà vàng. Theo ông: vì thấp nhiệt mà sinh ra hoàng đản, phép chữa chỉ dùng thuốc để thấm nước đi mà đi đái nhiều (thẩm lợi) như bài Tứ linh tán hay Ngũ linh gia vị, nặng dùng vị nhân trần làm chủ; cọn nếuvì phòng lao quá độ mà hoàng đản, không thể cho là chứng thấp uất mà dùng thẩm lợi gây hại người, bệnh nhẹ thì dung bài Bát vị tiêu giao bội nhiều sơn chi, nặng thì xét âm dương bên nào thắng hơn mà dùng bài Lục vị hay Bát vị, thêm rihững vị bổ tinh huyết [32].
Ngày nay, trong sách Nội khoa học của Y học cổ truyền Việt Nam viết về chứng hoàng đản một cách đầy đủ:
Về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh do tà ở ngoài xâm nhập, uống rượu vô độ và lao lực quá độ [12], [89]. Phân 3 loại theo biện chứng luận trị là dương hoàng, âm hoàng và cấp hoàng.
Dương hoàng: bệnh cấp, thời gian ngắn, sắc vàng tươi, thuộc nhiệt, thuộc thực.
Âm hoàng: bệnh hoãn, thời gian mắc bệnh tương đối dài, vàng sạm, thuộc hư, thuộc hàn.
Cấp hoàng: thường do tỳ vị vôn tích nhiệt (nay nhiệt độc ở ngoài tấn công vào, bệnh phát cấp dễ chết) [2],
Những đặc trưng vế chứng hậu.
Đặc trưng về chứng hậu:
Mẳt vàng, toàn thân vàng và tiểu tiẹn vàng là triệu chứng chủ yếu của chứng hoàng đản; trong đó mắt vàng là quan trọng nhất, là triệu chứng để dựa vào đó mà chẩn đoán hoàng đản. Thứ tự xuất hiện hoàng đản nói chụng: trướe tiên thấy tiểu tiện vàng, tiếp theo đến mắt vàng, sau cùng da mối vàng.
Đặc trưng về chứng loại:
Phân thành 8 loại chững hậu:
Tỳ vị thấp nhiệt: sắc vàng tươi, bụng đầy trướng, buồn hôn.
Can đỏm thấp nhiệt: sắc, vàng tươi, hạ sườn trướng đau, mồm đắng buồn nôn..
Đỏm nhiệt ứ kết: sắc vàng tươi, hạ sườn đau lên bả vai, buồn nôn nặng thậm chi nôn ra nước mật.
Nhiệt độc tích thịnh: sắc màu vàng kim, sốt cao, phiền táo, nôn, bụng trướng, lưỡi độ, rêu vàng.
Nhiệt độc nội hãm: toàn thân vàng kim, sốt cao về đêm, dưới da nổi ban chẩn, chảy máu mũi, nôn ra máu, đi ngoài ra máu, tinh thần không tỉnh táo, thậm chí mê sảng.
Hàn thấp tổn tỳ: sắc vàng tối, sợ lạnh thích ấm, ăn ít, bụng trướng, đại tiện nát.
Âm hư thấp trỏ: sắc vàng tối, đầu đau, lưng mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ (các triệu chứng của ean thận âm hư), lai cộ phúc thông, bụng trướng, lưỡi trắng bẩn (các triệu chứng của thấp tà tổn tỳ).
Can tỳ huyết ứ: sắc vàng tốì xạm, hạ sưòn tích cục, chất lưỡi tối, tím hoặc có ban ứ huyết.
Sự chuyển hoá các chứng và đặc trưmg biến hoá
Ngoại tà dẫn đến hoàng đản phần nhiều trước tiên có ngoại tà biểu chứrig, kèm theo eó các triệụ chứng can đỏm tỳ vị mất điều hoà rõ rệt, hoàng đản xuất hiện tương đồi nhanh; hoàng đản nội thương phần nhiều trước tiên có thòi kỳ dài mệt mỏi, ăn uống kém, bụng trướng (triệu chứng của tỳ vị), hoàng đản xuất hiện tương đối chậm.
Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/su-chuyen-hoa-cac-trieu-chung-cua-hoang.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: các bệnh về gan, cây
chó đẻ chữa bệnh gan
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét