Điều trị viêm gan B mạn
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
Điều trị được chỉ định chủ yếu cho thể VGMHĐ. Với những biến đổi sinh họá, mô học với HBV nhân lên thể hiện bằng HBV - DNA có mặt trong huyết thanh.
Đối vổi thể VGMTT thường không đòi hỏi điều trị chỉ cần giữ chế độ sinh hoạt, dinh dưõng. Chỉ dùng thuốc trong trường hợp vượng bệnh hoặc tiến triển thành VGMHĐ.
Thận trọng đốỉ vói những thể có suy gan nặng (tỷ lệ Quick dưới 50%, hoặc đã có các biến chứng như cổ trướng, bệnh não gan, xuất huyết tiêu hoá, tiểu cầu, bạch cầu thấp.
Mục đích điều trị: đình chỉ sự nhân lên các HBV vói 3 loại đáp ứng:
+ Đáp ứng típ I: HBV - DNA âm tính hoá.
+ Đáp ứng II: Có chuyển đảo huyết thanh, thể hiện bằng anti - HBe xuất hiện và HBV ngừng nhân lên kéo dài.
+ Đáp ứng III: Virụs ngừng hoàn toàn nhân lên, Chuyển đảo huyết thanh HBeAg thành anti - HBe. Chỉ có đáp ứng tip III này mới có thể nói VGM ngừng vĩnh viễn hoạt động bệnh.
Các thuốc: ngoài các thuốc điều trị cơ chế, điểu trị triệu chứng ỗ đây chỉ đề cập những thuốc tác động vào quá trình nhân lên các HBV, những thuốc điều chỉnh miễn dịch.
Adénine arabinoside (ARA-A, vidarabine)
Là một đồng đẳng nucleoside nhằm ức chế hoạt tính HBV - DNA polymerase.
Phác đồ I: 15mg/kg/ngày giò giọt tĩnh mạch liên tục X 7 ngày đầu.
7,5mg/kg/ngày X 14 ngày tiếp theo.
Kinh nghiệm có thể đạt đáp ứng típ II từ 25% sô' ca được điều trị hoặc:
Phác đồ II: iOmg/kg/ngày tiêm bt chíà hai cách nhau 12 giờ X 5 ngày.
5mg/kg/ngày tiêm bt chia hai cách nhau 12 giò X 23 ngày tiep theo
1.2. lnterferon - alpha: Có tác dụng kháng HBV vối hai cơ chế:
ức chế HBV é DNA, kích hoạt các men kháng virus. Tăng cường đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.
liều lượng; 5 -10 triệu đv tiêm dd hoặc bư ba lần trong 1 tuần X 6 tháng.
Kinh nghiệm có thể đạt đáp ứng típ II ỏ 40% số bệnh nhân điều trị.
Nghiên cứu trên 8 bệnh nhân VGBMHĐ được xác bằng lâm sàng, sinh thiết gan được điều trị bằng mterieron - alphã với liều 3 - 5 triệu đơn vị X 3 lần/tuần kéo dài 16 - 24 tuần. Chúng tôi [6] thấy cả 8 bệnh nhân đều ổn định về lâm sàng và xét nghiệm, men aminotransferase trỏ về bình thường sau 7,42 ± 1,61 tuần. Sô' lượng tế bào lympho T tăng có ý nghĩa so với trước khi điều trị, không có trường hợp nào HBsAg trở thành âm tính, 3 bệnh nhân có chuyển đảo huyết thanh (HBeAg trỏ thành âm tính và xuất hiện anti - HBe). Một số tác dụng phụ hay gặp như sốt, chán ăn, mệt mỏi nhưng không ảnh hưống tới kết quả điều trị.
Interferon alpha với liều thấp hơn cũng đã được áp dụng trên những bệnh nhân gan mạn do HBV mang lại hiệu quả tốt [11]. Mai Hồng Bàng [1] điều trị cho 45 bệnh nhân VGB mạn bằng Interferon a - 2A và 2B, theo dõi 5 năm. Thây lần lượt sau 24 tuần có 70 - 73%, sau 52 tuần có 90 - 93% bệnh nhân có ALT về bình thường, 75 * 82% và 91,7 - 95,6% scí bệnh nhân mất HBV - DNA. Tỷ lệ mất HBeAg và chuyển đảo huyết thanh sau 24 và 52 tuần là 40% và 46,7 - 53,3%. Tỷ lệ mất HBeAg sau 52 tuần là 15,6%. Tác dụng này xa với nhóm chứng không được điểu trị. Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm IFN á-2A và 2B. IFN a có khả năng ức chế sự tiến triển VGBM thành xơ gan và ung thư gan. Nhược điểm giá thành cao, nhiều tác dụng phụ.
Đọc thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét