Điều trị bệnh nhân tiền hôn mê hay hôn mê gan
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
Dựa trên những nguyên tắc sau:
Hạn chế sản sinh và vô hiệu hoá những chất độc đôĩ với não.
Duy trì cân bằng toan kiềm, điện giải, các qụá trình oxy hoá sinh học của cớ thể..
Đảm bảo cầm máu, chống rối loạn huyết động, chống suy thận.
Sử dụng cocticoit.
Chống bội nhiễm.
Hạn chế sản sinh và vô hiệu hoá những chất độc với não
Để hạn chế sản sinh amoniac và phenol ỏ ruột, cấm ăn tất cả các loại thức ăn có đạm, dù là nguồn gốc động vật hay thực vật.
Thụt tháo kết hợp với thuốc nhuận tràng tông sạch phấn khỏi ruột.
Qua ống thông dạ dày đưa các kháng sinh vào để diệt và kìm hãm vi khuẩn ỏ ruột, chỉ sử dụng những kháng sinh có tác dụng tốt đối vối vi khuẩn ruột mà không hấp thụ gây độc cho gan: néomỹin 4g, polymyxin M 2 triệu đơn vị, kanamyxin 2 3g/ngày, chia 4- 6 lần.
Vô hiệu hoá amoniac máụ: truyền nhỏ giọt tĩnh mạch dung dịch acid glutamic 4% X 500 1.500ml/ngày, acginin, hépamerz
Đảm bảo cân bằng nội môi
Truyền huyết thanh ngọt ưu trương 20 - 30% để chống phù não, cung cấp năng lượng, mỗi ngày có thể dùng 200 1 5Q0ml, các vitamin Bt, B2, B6, Bi2, G, cocaboxylase.
Điều chỉnh nưốc, điện giải, thăng bằng toan kiềm.
Nếu nhiễm toan, truyền dung dịch bicacbonat natri 4% 200 600ml/ngày. Ngược lại, nếu nhiễm kiềm có thể sử dụng vitamin c liều cao, truyền tĩnh mạch chậm vổi số lượng kali cao, 6 8 g /ngày, thậm chí cao hơn nữa dưối các dạng panalgiclorua kali truyền và uống, kaleorid. Nếu nhiễm kiềm nặng có thể trung hoà bằng giỏ giọt tĩnh mạch dung dịch acid clohydric 0, 1 - 0,3%. Chỉ truyền clorua kali liều caò khi có xét nghiệm ion đồ.
Theo dõi chặt chẽ lượng chất nôn và nước tiểu để điều chĩnh lượng nước đưa vào bằng các đường khác nhau cho an toàn. .
Cho thở oxy, ở những nơi có điều kiện đặt bệnh nhân trong buồng oxy cao áp để chông thiếu oxy máu trong 1-3 giờ đưói áp lực 2-3 atmotphe.
Chống rối loạn huyết động
Bệnh nhân hôn mê gan rất nhậy cảm với những rốì loạn huyết động, do đó phải theo dõi chặt chẽ huyết áp tĩnh mạch trung ương, huyết áp động mạch, huyết áp mạch quay và bài niệu.
Nếu huyết áp tĩnh mạch trung ương giảm, bổ sung kịp thòi bằng cảc dịch truyền, dung dịch albumin ngưòi.
Khi có xuất huyết ỏ phần trên đường tiêu hoá, rửa dạ dày bằng dung dịch muối sinh lý lạnh, tiêm vitamin K, truyền máu nhất là máu tươi, tốt hơn nữã là các chế phẩm chứa các yếu tô" đông máu thuần khiết và cô đặc.
Nếu có triệu chứng đông máu nội mạch rải rác truyền nhỏ giọt héparin khoảng 10.000 đơn vị /ngày. Theo dõi chặt chẽ các yếu tô' đông mậu, thòi gian đông máu. Kinh nghiệm của Wiliams [4] là điều trị héparin sốm và mạnh trưóc khi xảy ra xuất huyết mới có hiệu quả. Dựa vào thời gian protrombin và lượng ồbrinogen máu mà điều chỉnh lừỢng héparin hàng giò. Trong phạm vi 36 giò đầu mỗi lần 2.000-3.000 đơn vị.
Để ức chế quá trình tan sợi huyết, nếu xảy ra, dùng các thuốc kìm hãm protease: acid alpha-aminocaproic. Tuy nhiên cần nhấn mạnh là điều trị héparin có nhiều nguy hiểm, kết quả tốt chỉ đạt được khi có điều kiện theo dõi chặt chẽ lâm sàng và các chỉ tiêu đông máu.
Cocticoit liệu pháp: Pretnisolon 250-500mg/ngày qUa truyển tĩnh mạch hoặc bắp thịt. Depecsolon 60-90mg/ngay. Thuốc có nhiểu tác dụng như chông viêm không đặc hiệu ức chế miễn dịch tế bào cũng như dịch thể do đó bảo vệ các tế bào gan khỏi hoại tử.
Chống bội nhiễm bằng các biện pháp: đảm bảo vô trùng triệt để trong các thủ thuật, vệ sinh răng miệng, thân thể. Để đề phòng bội nhiễm, nhất là khi đã phát hiện bội nhiễm, sử dụng các kháng sinh phổ rộng và không độc đốì với gan.
Các biện pháp khác
Trong trường hợp bệnh nhân vật vã, kích thích hoặc co giật: sử dụng diazepam, haloperidol tiêm bắp thịt hoặc tiêm tĩnh mạch.
Một số biện pháp khác: thay thế máu, tuần hoàn chéo, thẩm phân máu, tuần hoàn qua gan lợn kết quả hạn chế, hơn nữa đòi hỏi trang bị tốn kém.
Đọc thêm tại: http://dieutrigan.blogspot.com/2014/09/viem-gan-b-tai-phat-sau-ghep-gan.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: dấu hiệu bệnh gan, cây
chữa bệnh gan
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét